Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của
thầy cô giáo. Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám Hiệu trường Đại học Nha
Trang.
Ban Chủ Nhiệm Khoa Nuôi Trồng Thủy
Sản
Toàn thể quý Thầy cô Khoa Nuôi Trồng
Thủy Sản đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và thực
tập tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn
ThS. Phạm Thị Hạnh, đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy trong suốt quá trình thực
hiện đồ án tốt nghiệp và hoàn thành đồ án.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến ThS. Cao Trường Giang, cùng tất cả các anh chị ở trung
tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình
thực tập.
Cuối cùng, lời cảm ơn xin được gửi tới
gia đình, bạn bè, đã động viên giúp đỡ em trong suốt thời gian học đại học.
Trong thời gian thực hiện đồ án tốt
nghiệp, mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng do thời gian và kiến thức còn hạn
chế nên không thể tránh được những sai sót. Rất mong được sự quan tâm, góp ý của thầy cô để đồ án được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 8 năm 2010
Sinh
viên
Hà Xuân Thuỷ
|
STT
|
Chữ
viết tắt
|
Diễn giải nghĩa
|
|
1
|
ĐVTM
|
Động vật
thân mềm
|
|
2
|
NTTS
|
Nuôi trồng
thuỷ sản
|
|
3
|
TBD
|
Thái Bình
Dương
|
|
4
|
FAO
|
Tổ chức
lương thực-Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc
|
|
5
|
ÂT
|
Ấu trùng
|
|
6
|
BTL
|
Bái Tử Long
|
|
7
|
CTV
|
Cộng tác
viên
|
|
8
|
Spat
|
Ấu trùng bám
|
|
9
|
S‰
|
Nồng độ muối
|
|
10
|
TTTBCT
|
Tăng trưởng
trung bình công thức
|
|
11
|
TB
|
Tế bào
|
|
12
|
NXB
|
Nhà xuất bản
|
|
13
|
CT
|
Công thức
|
|
14
|
NCNTTS
|
Nghiên cứu
nuôi trồng thuỷ sản
|
|
15
|
Gt
|
Tốc độ tăng
trưởng
|
|
16
|
TLS
|
Tỉ lệ sống
|
|
17
|
TTTB
|
Tăng trưởng
trung bình
|
|
18
|
Htb
|
Chiều cao
trung bình
|
|
19
|
T
|
I.galbana
|
|
20
|
Cp
|
C.pummilum
|
|
21
|
I
|
Isochresys
galbana
|
|
22
|
Cc
|
Chaetoceros
calcitrans
|
PHẦN I. MỞ ĐẦU
Ở
nước ta hiện nay nghề nuôi hầu đang có xu hướng phát triển mạnh, nhu cầu về con
giống tăng cao. Một trong những loài hầu đang được người nuôi quan tâm đầu tư
là Hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas, Thunberg, 1793), có nguồn gốc từ Nhật Bản có
tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng phân bố rộng. So với các loài hầu bản địa và động vật thân mềm khác
đang được nuôi ở Việt Nam, hầu TBD có những ưu việt hơn như tốc độ tăng
trưởng nhanh, tỷ lệ thịt cao, hàm lượng dinh dưỡng cao, chi phí đầu tư ban đầu
thấp, thu hồi vốn nhanh, cho lợi nhuận cao, nhu cầu thị trường trong và
ngoài nước lớn, đa dạng trong chế biến và có giá trị trong y dược. Đây
là đối tượng nuôi quan trọng có giá trị kinh tế và xuất khẩu. Hiện nay hầu TBD
đã được nuôi ở 64 nước trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Đài
Loan, Pháp, Mỹ, Canada… Chưa có loài thuỷ sản nào có sản lượng tăng nhanh như
hầu Thái Bình Dương. Năm
1950 tổng sản lượng hầu thế giới là 150.000 tấn, năm 1970 tăng lên 437.000 tấn,
1990 là 1,2 triệu tấn, năm 2000 là 3,9 triệu tấn và năm 2003 đạt 4,38 triệu
tấn. Với xu hướng phát triển như hiện nay thì nhu cầu con giống sẽ rất lớn. Tuy
nhiên nguồn giống hầu ngoài tự nhiên thì có hạn và nguồn giống từ các trai sản
xuất giống không đáp ứng đủ nhu cầu cho nghề nuôi hầu thương phẩm. Ở nước ta sản
xuất giống hầu TBD cho tỷ lệ sống chưa cao. Có nhiều nguyên nhân làm giảm tỷ lệ
sống của hầu, trong đó có thức ăn và độ mặn.[13],[14],[20]
Để
góp phần tạo ra một lượng con giống lớn có chất lượng cao phục vụ cho nuôi
thương phẩm thì vấn đề nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống
hầu TBD là hết sức cần thiết. Nhưng khó khăn trong sản xuất giống hầu hiện nay
là vấn đề tìm ra công thức thức ăn và ngưỡng độ mặn phù hợp cho ấu trùng hầu
sinh trưởng và phát triển, giải quyết được khâu này sẽ là chìa khóa cho vấn đề
sản xuất con giống đại trà phục vụ rộng rãi người nuôi thương phẩm.
Xuất phát từ thực tiễn
trên, em tiến hành lựa chọn đồ án tìm hiểu: “ Ảnh hưởng của độ mặn và thức ăn
đến sinh trưởng, tỉ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng hầu Thái Bình
Dương (Crassostrea gigas)” Sự thành công của đồ án sẽ là cơ sở góp
phần vào việc hoàn thiện quy trình sản xuất giống phục vụ nhu cầu nuôi thương
phẩm đang phát triển mạnh mẽ hiện nay.
1. Mục tiêu của đồ án
-
Xác định ngưỡng độ mặn phù
hợp cho giai đoạn ấu trùng.
-
Xác định được thức ăn phù
hợp cho giai đoạn ấu trùng.
2. Nội dung
-
Ảnh hưởng của độ mặn đến
sinh trưởng, tỉ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng.
-
Ảnh hưởng của thức ăn đến
sinh trưởng, tỉ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng.
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Đặc điểm tự nhiên của vùng biển Cát Bà
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Vùng biển Cát Bà - Hải Phòng nằm trong
vành đai nhiệt đới gió mùa châu Á, chịu ảnh hưởng trực tiếp của đại dương. Hải
Phòng hay xuất hiện những cơn lốc mạnh, mỗi năm trung bình có khoảng 1,5 cơn
bão đổ vào trực tiếp và 3 - 5 cơn bão gây ảnh hưởng. Bão thường xảy ra từ tháng
6 đến tháng 10 và tập trung vào tháng 7 - 8 hàng năm. [4]
Vùng biển Cát Bà - Hải Phòng nhận được
năng lượng bức xạ mặt trời tương đối lớn, thời gian chiếu sáng trung bình trong
năm đạt 1600 - 1900 giờ. Tổng lượng nhiệt trung bình hàng năm đạt 8000 – 8400oC.
[4]

Lượng mưa ở khu vực Cát Bà – Hải
Phòng dao động trung bình từ 1800 - 2000 mm/năm. Mùa mưa kéo dài khoảng 6 tháng
(tháng 5 - 10). Trong mùa mưa tập trung đến 86% lượng mưa của cả năm.[1],[8]
Chế độ thuỷ triều ở đây theo kiểu
nhật triều điển hình với hầu hết những ngày trong tháng đều là nhật triều. Đây
là vùng biển có biên độ thuỷ triều cao nhất trong dải bờ biển Việt Nam, biên độ trung bình từ 3,6 - 4,0 m.[8]
2.1.2. Đặc điểm môi trường nước vùng biển Cát Bà – Hải Phòng
Tại đây độ mặn của nước bề mặt dao động trong năm trung
bình từ 20,5 - 31,3‰. Tầng giữa độ mặn đạt tới 32‰. Tầng đáy có độ mặn dao động
trong năm từ 29 - 34,6‰ cao nhất vào khoảng tháng 4 và đạt thấp nhất vào tháng
7 và tháng 9. [8],[2]
Do ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều
ngày đêm lên xuống 2 lần nên mức độ lưu thông nước ở đây rất tốt, lượng oxy hoà
tan trong vùng tương đối cao và ổn định. Hàm lượng oxy dao động trong khoảng từ
6,2 - 7,5mg/l.[1],[8],[4]
Hàm lượng muối dinh dưỡng (NO2-,
PO43-, NH4+…) khá cao và tăng dần
từ mùa mưa tới mùa khô.[2]
Theo kết quả quan trắc của các trạm
ở Đông Cát Bà vào tháng 8 và tháng 11 năm 2001 cho thấy: chỉ số pH trong khu
vực dao động từ 7 - 8,5
Như vậy điều kiện khí hậu ở đây khá phù
hợp cho nhiều loài động vật thân mềm sinh sống và phát triển. Chất lượng nước
sạch, ít bị ô nhiễm nên Cát Bà là vùng biển tiềm năng cho sự phát triển giống
hầu và một số loài nhuyễn thể có giá trị khác.
2.2. Đặc điểm sinh học của hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas)
2.2.1. Đặc điểm và phân loại
- Hầu TBD được Thunberg phân
loại vào 1793 như sau:
Ngành nhuyễn thể: Mollusca
Lớp hai mảnh vỏ: Bivalvia
Bộ cơ lệch: Anisomyarya
Họ hầu: Ostreidae
Giống hầu: Crasosstrea
Loài hầu Thái Bình Dương: C. gigas

2.2.2. Nguồn gốc, phân bố và tập tính sống.
Hầu TBD có nguồn gốc
từ Nhật Bản, từ đó được di nhập tới nhiều nơi trên thế giới như: Nam Mỹ (1920),
Châu Âu (1960), Pháp (1966)... đến năm 2003 chúng có mặt ở 64 nước trên thế
giới ở cả 5 châu lục. Hiện nay, nó đã được tìm thấy phổ biến ở vùng biển của
Pháp, Anh, Mêhicô, Trung Quốc, Brazil… phân bố từ 30 - 40 vĩ độ Bắc của Hàn
Quốc và vùng trung triều. Chúng có thể sống ở độ sâu 40 m, sống bám trên rễ
cây, bề mặt đá hay vỏ nhuyễn thể khác. Hầu TBD là loài có khả năng thích ứng
rộng, có thể sống ở độ mặn 10 - 42‰, độ mặn thích hợp là 20 - 25‰, nhiệt độ 4 – 35oC, nhiệt độ thích
hợp ở 20 - 28oC đặc biệt ở -5oC còn tồn tại.[1],[10],[14]
Sự thay đổi độ mặn sẽ làm
cho áp suất thẩm thấu trong và ngoài cơ thể hầu bị mất cân bằng. Nếu độ mặn
giảm còn 3‰ cơ thể hầu sẽ bị trương nước, sinh trưởng kém.
Tình trạng này kéo dài hay độ mặn giảm còn 1-2‰: hầu sẽ chết. Ngược lại
nếu độ mặn quá cao cũng sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của hầu.[6]
2.2.3. Đặc điểm hình thái.
Hầu TBD là loài có kích
thước lớn nhất trong các loài hầu trên thế giới, trung bình từ 8 - 20 cm, có
sức sinh trưởng nhanh có thể đạt 100 mm trong 12 tháng đầu đời, tuổi thọ có thể
đạt 13 năm. Hầu TBD có dạng giống với hầu cửa sông (Crasostrea rivularis), tuy nhiên hầu TBD có tỷ lệ chiều cao và
chiều dài lớn hơn từ 1/2 - 1/3 hầu cửa sông. Hầu sống ở các khu vực khác nhau
có hình dạng, kích thước, màu sắc khác nhau.[14]
Vỏ: Tương đối lớn và không đều
nhau giữa hai vỏ, chúng dài và có hình gần Oval, những sọc đối xứng của 2 vỏ
thì bắt đầu từ những mấu lồi. Cơ khép vỏ có hình bầu dục. Trên bề mặt phần
trước bụng và phần lưng của vỏ thường có những hốc lõm sâu. Màu vỏ ngoài hơi
trắng vàng và có những sọc màu nâu, phía trong vỏ có màu trắng sữa.
2.2.4. Đặc điểm dinh dưỡng
*Thức ăn: thức ăn của hầu thay đổi khác
nhau tùy thuộc vào phương thức sống của từng giai đoạn:
+ Giai đoạn sống trôi nổi: thức ăn là các loại thực vật phù du kích thước
nhỏ như: monas, platymonas, cryptomonas, chlorella,
isochryris…
+ Giai đoạn
trưởng thành: thức ăn là sinh vật phù du và mùn bã hữu cơ.
- Thực vật phù du (phytoplankton): Melosira, Coscinodiscus, Rhizosolenia,
Thalassiotrix, Chaetoceros, Biddulphia, Dytilum,
Nitzschia, Bacillaria, Skeletonema, Navicula, Cyctotella...
- Động vật phù du (zooplankton): Copepoda nhỏ, Rotifer và các
loại ấu trùng của: Copepoda, Polychacta.[6]
Cũng giống
như các loài nhuyễn thể khác, hầu TBD là loài ăn lọc thụ động. Hầu bắt mồi
trong quá trình hô hấp dựa vào cấu tạo đặc biệt của mang. Khi hô hấp, nước có
trong mang theo thức ăn qua bề mặt mang, các hạt thức ăn được giữ lại ở mang
nhờ các tiêm mao và dịch nhờn được tiết ra nhờ các tiêm mao. Các hạt thức ăn có
kích thước nhỏ sẽ được dịch nhờn của các tiêm mao quấn dần về phía miệng, còn
hạt thức ăn quá lớn tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước quấn đi khỏi bề mặt
mang, sau đó tập trung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài. Mặc dù hầu bắt
mồi thụ động nhưng với cách bắt mồi như vậy, chúng có thể chọn lọc thức ăn theo
kích thước. Chúng lọc những thức ăn phù hợp về kích thước, các thức ăn phù hợp
sẽ được giữ lại ở mang, những loại thức ăn không thích hợp sẽ không được tiêu
hóa và bị đẩy ra ngoài. Thức ăn của hầu tương đối đa dạng như: vi khuẩn, sinh
vật nhỏ, mùn bã hữu cơ, tảo, trùng roi có kích thước dưới 10 mm. Hầu cũng có thể sử dụng được một số vật chất hòa tan trong nước và vật
chất hữu cơ. Và các loài tảo thường gặp là tảo khuê như: Chaetceros calcitrans, C.muelleri…tảo
Silic: Nitzschia sp, Skeletonema sp…tảo
có lông roi: I.galbana, P.lutherii, Tetraselmis…vì kích cỡ phù hợp, dễ tiêu
hoá, hàm lượng dinh dưỡng cao.[3],[4]
Quá trình chọn lọc thức ăn
được thực hiện 4 lần theo phương thức trên: Lần 1 xảy ra trên bề mặt mang, lần
2 xảy ra trên đường vận chuyển, lần 3 xảy ra trên xúc biên, lần 4 xảy ra tại
manh nang chọn lọc thức ăn. Thức ăn sau khi chọn lọc được đưa đến dạ dày để
tiêu hoá, tại đây thức ăn được tiêu hoá một phần nhờ các men như: Amilase,
Lactase, Glycogenase, Lipase, Maltase, Protease... Các thức ăn không thích hợp
sẽ được đẩy xuống ruột và ra ngoài qua hậu môn.[5]
Các tác nhân ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi
của hầu là thuỷ triều, lượng thức ăn và các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng
độ muối...). Khi thuỷ triều lên, cường độ bắt mồi tăng, triều xuống cường độ
bắt mồi giảm, trong môi trường có nhiều thức ăn thì cường độ bắt mồi thấp và ít
thức ăn thì cường độ bắt mồi cao. Khi các yếu tố môi trường trong khoảng thích
hợp thì cường độ bắt mồi cao (nhiệt độ: 25 - 30oC và độ mặn: 20 – 25‰
bắt mồi mạnh) và khi các yếu tố môi trường ngoài khoảng thích hợp thì cường độ
bắt mồi thấp.[6]
2.2.5. Đặc điểm sinh sản
Hầu TBD là loài lưỡng
tính, lúc mới sinh ra là đực, trong quá trình sống thì giới tính thay đổi phụ
thuộc vào môi trường sống. Trong vùng thức ăn phong phú thì đàn hầu cái chiếm
ưu thế. Khi môi trường nước có nguồn thức ăn nghèo về số lượng và thành phần
loài thì chúng lại chuyển thành đực.[3]
Ở châu Âu, quá trình hình
thành giao tử bắt đầu tại 10oC, độ mặn 15 - 32‰, quá trình hình
thành giao tử giảm đi khi độ mặn cao hơn. Sự đẻ trứng diễn ra ở 18oC,
đặc biệt ở Canada gặp trường hợp sinh sản ở 15oC.[3]
Theo kết quả nghiên cứu
của nhiều tác giả: các loài hầu khác nhau thì cần nhiệt độ nước cho quá trình
sinh sản cũng khác nhau: hầu dài O.gigas: trên 25oC;
hầu nhặt vảy O.denselamellosa: 21oC – 23oC;
hầu Ấn Độ O.cucullata: 17oC – 18oC;
hầu vịnh Đại Liên O.talienwhanensis: 20oC – 27oC….Khi
nhiệt độ thích hợp và hầu đã thành thục nhưng độ mặn của môi trường là 25 – 30‰ thì hầu vẫn chưa sinh sản rộ. Nhưng khi vào
mùa mưa độ mặn giảm còn 10 – 20‰ thì hầu sinh sản rất mạnh.[6]
Cơ quan sinh dục của hầu
có thể thấy rõ vào mùa sinh sản, lúc này tuyến sinh dục đã phát triển có màu
trắng sữa chứa đầy nang nội tạng. Tuyến sinh dục gồm 3 bộ phận: bao noãn là
những nhánh của ống sinh dục ẩn trong mô liên kết dạng lưới, ống sinh dục gồm
những ống nhỏ đối xứng hai bên, xung quanh nội tạng là cơ quan trọng yếu trong
hình thành tế bào sinh dục, ống vận chuyển sinh dục là một ống dẫn gồm nhiều
ống sinh dục hợp lại bên trong có tiêm mao. Khi ống sinh dục mở ở khe niệu sinh
dục tại mặt bụng cơ khép vỏ nó có tác dụng vận chuyển trứng và tinh trùng đã
thành thục ra ngoài.[9]
Trong mùa sinh sản, tuyến
sinh dục phát triển mạnh, trọng lượng có thể đạt 50% trọng lượng cơ thể, hầu
cái đẻ 50 - 200 triệu trứng/lần đẻ. Trứng có thể tồn tại trong nước 10 - 15h, sau
3 - 4 tuần phát triển thành Spat. Cũng như loài hầu cửa sông của Việt Nam, thời
gian đầu ÂT sống phù du trong cột nước, sau thời gian biến thái sẽ lắng đáy và
bám vào vật bám. Lúc này kích thước ÂT đạt 300 – 350µm. Thời gian biến thái của
hầu phụ thuộc vào nhiệt độ, thức ăn, độ mặn (FAO, 2003).[14]
2.2.6. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng.
* Ấu trùng Veliger
Xuất hiện ÂT Veliger sau
16 - 24 giờ từ khi thụ tinh, ÂT có dạng chữ D, có 2 nắp vỏ và có vành tiêm mao
giữa 2 nắp vỏ, ÂT vận động nhanh nhờ sự vận động của vành tiêm mao miệng. Giai
đoạn này kéo dài từ 2 - 6 ngày và kích thước ÂT dao động từ 75 – 120 µm.[15]
* Ấu trùng Umbo
Đặc trưng của giai đoạn
này là sự hình thành các cơ quan bao gồm: giai đoạn Umbo sơ kỳ, bắt đầu xuất
hiện mầm cơ khép vỏ. Quan sát trên kính hiển vi thấy ruột và một đôi cơ quan
trong suốt. Giai đoạn Umbo trung kỳ xuất hiện đỉnh vỏ, kích thước ÂT đạt 130 –
200 µm. Giai đoạn hậu kỳ đỉnh vỏ, ÂT xuất hiện điểm mắt, kích thước ÂT tăng
nhanh, cuối giai đoạn Umbo hậu kỳ xuất hiện điểm mắt ở gần phía đỉnh vỏ, một số
cá thể hình thành chân bò, đây là dấu hiệu kết thúc giai đoạn sống trôi nổi
chuyển sang giai đoạn sống bám cố định. Trong sản xuất giống nhân tạo, đây là
thời điểm đặc biệt quan trọng trong việc thả vật bám để thu con giống bám.[2],[11]
* Ấu trùng bám
Sau khi xuất hiện chân bò,
hoạt động bơi của ÂT giảm dần, ÂT chuyển xuống bò dưới đáy, lúc này vành tiêm
mao và điểm mắt thoái hoá dần. Đặc trưng của giai đoạn này là sự hình thành các
tơ chân, màng áo và một số cơ quan khác. Ấu trùng chuyển sang hoàn toàn sống
bám.[3]
Hình 2.3. Vòng đời phát
triển của Hầu Thái Bình Dương
(Nguồn: Fishers and Marine
technology center Saturo Aka Shige)
Các nghiên cứu trước đây cho thấy yếu tố quan trọng ảnh
hưởng tới sự thành thục của hầu TBD là nhiệt độ. Ngoài ra độ mặn và thức ăn
cũng có ảnh hưởng lớn tới sự thành thục của tuyến sinh dục.Và
cho rằng hầu lớn hơn 2 tuổi mới có
khả năng sinh sản. Tuy nhiên ở Việt Nam, hầu nuôi ở vịnh Bái Tử Long sau 9
tháng tuổi đã thành thục. Điều này có thể do các yếu tố môi trường ở nước ta có
sự khác biệt so với các nước khác. Kết thúc giai đoạn sống phù du, giai đoạn ÂT
xuất hiện chân và bám cũng chịu ảnh hưởng của nhiệt độ là chủ yếu sau đó là độ
mặn và tốc độ dòng chảy. Tuy độ mặn, nhiệt độ tối ưu nhưng dòng chảy > 5 – 7 cm/s ÂT sẽ không bám được. Độ mặn thích hợp cho sự
phát triển của phôi và ấu trùng hầu giống đối với hầu cửa sông C. rivularis:
10 - 25‰ (nếu độ mặn < 5‰: trứng trương nước, nếu độ mặn >25‰: trứng mất
nước, ấu trùng bị dị hình và không phát triển.[6],[3]
cho rằng hầu lớn hơn 2 tuổi mới có
khả năng sinh sản. Tuy nhiên ở Việt Nam, hầu nuôi ở vịnh Bái Tử Long sau 9
tháng tuổi đã thành thục. Điều này có thể do các yếu tố môi trường ở nước ta có
sự khác biệt so với các nước khác. Kết thúc giai đoạn sống phù du, giai đoạn ÂT
xuất hiện chân và bám cũng chịu ảnh hưởng của nhiệt độ là chủ yếu sau đó là độ
mặn và tốc độ dòng chảy. Tuy độ mặn, nhiệt độ tối ưu nhưng dòng chảy > 5 – 7 cm/s ÂT sẽ không bám được. Độ mặn thích hợp cho sự
phát triển của phôi và ấu trùng hầu giống đối với hầu cửa sông C. rivularis:
10 - 25‰ (nếu độ mặn < 5‰: trứng trương nước, nếu độ mặn >25‰: trứng mất
nước, ấu trùng bị dị hình và không phát triển.[6],[3]2.3. Tình hình nghiên cứu về sản xuất giống hầu trên thế giới và tại Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về sản xuất giống trên thế giới
Giống hầu nhân tạo được
sản xuất trong các trại giống chuyên sản xuất nhuyễn thể, mỗi năm có thể sản xuất
hàng trăm triệu đến hàng tỷ Spat. Giống nhân tạo có chất lượng tốt, kích thước
đồng đều và có thể phát triển nuôi chủ động, nhất là nuôi hầu rời, hầu treo.[3]
Theo Park và ctv (1988),
nhiệt độ, thức ăn và độ mặn là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự
phát triển của ÂT, khi nhiệt độ thấp hầu sinh trưởng và biến thái chậm, thời
gian phù du kéo dài. Ở nhiệt độ 19 – 20oC giai đoạn phù du của hầu
kéo dài 3 tuần, khi nhiệt độ 27oC giai đoạn phù du của hầu kéo dài
10 ngày. Độ mặn trong giai đoạn này có thể dao động 14 - 37‰ nhưng thích hợp
nhất là 15 - 25‰. Nếu ÂT được cung cấp thức ăn đầy đủ và các yếu tố môi trường
được duy trì thích hợp thì kích thước của ÂT có thể đạt tới 1,5 mm.[3],[10]
Thời
gian biến thái của ÂT hầu thường gắn liền với tăng trưởng về chiều cao vỏ tức
là ở một khoảng kích thước nào đó ÂT hầu sẽ chuyển từ giai đoạn này sang giai
đoạn khác. Theo Coon (1990); Utting và Spencer, (1991): ÂT hầu C.gigas biến thái khi đạt kích thước >280µm.[3]
Kết quả nghiên cứu tổng hợp của FAO (2003) cho thấy: Nhiệt
độ thích hợp cho ÂT biến thái và phát triển là 25 - 28oC, độ mặn 20
- 25‰. Mật độ thích hợp ban đầu là 20000 ÂT/lít nước biển. Mật độ này sẽ giảm
dần do tử vong, thoát ra ngoài trong quá trình thay nước, còn lại khoảng 5000
ÂT/lít. Đây là mật độ phù hợp để ÂT sinh trưởng nhanh, khỏe mạnh và nhanh đến
giai đoạn bám. Giai đoạn đầu thức ăn của ÂT Hầu TBD là các loài tảo: Isochrysis galbana hoặc Pavlova lutherii cùng với một số loài khuê tảo nhỏ như: Chaetceros calcitrans hoặc Thalasiosira
pseudonana. Giai đoạn sau khi ÂT đã lớn ngoài các loài
tảo trên cần bổ sung thêm Tetraselmis.
Khi ÂT chuẩn bị bắt đầu lắng đáy, có thể nhìn thấy điểm mắt màu tối qua lớp vỏ
trong suốt và chân bắt đầu phát triển. Lúc này cần thả vật bám (vỏ nhuyễn thể,
mảnh nhựa, gạch, đá...) cho ÂT bám.[3]
Năm
1997 Hickey đã mô tả khá chi tiết thời gian biến thái, kích thước, mật độ nuôi
và chế độ chăm sóc ÂT ở Brazin trong điều kiện nhiệt độ 25oC như
sau:
|
Giai đoạn
|
Tuổi
|
Kích thước
|
Mật độ nuôi
|
Thức ăn
|
Loài và lượng thức ăn
|
|
|
Trứng
|
0 - 24h
|
55µm
|
100/ml
|
Không
|
Không
|
|
|
ÂT chữ D
|
2 - 6 ngày
|
75 - 120 µm
|
10/ml
|
30.000 tb/ml
|
100% (I)
|
1 lần/ngày
|
|
Hậu Veliger
|
7 - 14 ngày
|
130 - 200 µm
|
5-10/ml
|
50.000 tb/ml
|
70% I:30%Cc 50%I:50%Cc
70%Cc;30%I
|
2 lần
|
|
Veliger điểm mắt
|
14-21 ngày
|
200 - 300 µm
|
5/ml
|
80.000 tb/ml
|
30%I:70%Cc
|
2 lần
|
|
Spat sớm
|
21
ngày |
Đến
4mm |
-
|
100.000 tb/ml
|
30%I:70%Cc
|
1 lần
|
I: Isochresys galbana; Cc: Chaetoceros
calcitrans.
Ấu trùng hầu TBD bắt đầu bám giá thể
khi đạt kích thước > 0.3 mm. Để đảm bảo tỉ lệ sống cao ở vùng nuôi thương
phẩm, ở nhiều nước hầu giống được nuôi giữ với điều kiện tốt trong trại giống
cho đến khi đạt kích thước 3 – 5 mm rồi mới đưa ra vùng nuôi, phương pháp này
làm giảm tỉ lệ tử vong khi đưa hầu ra bãi nuôi sớm. Sự phong phú thức ăn ở các
bể, ao ngoài trời trong các trại giống đã làm cho hầu sinh trưởng rất nhanh,
khỏe mạnh và nhanh chóng chuyển ra nuôi lớn.[3],[10]
Để khắc phục sự thiếu hụt thành phần
ding dưỡng ở một loài tảo đơn lẻ khi nuôi hầu đá (Saccostrea glomerata). Dove và ctv (2002) đã kết hợp giữa Chaetoceros mulleri với tảo Tahitian Isochrysis và Pavlova.lutheri, theo
tỉ lệ 30% Chaetoceros mulleri: 35% Tahitian Isochrysis: 35% Pavlova.lutheri; 20% Chaetoceros mulleri: 40% Tahitian Isochrysi: 40% Pavlova.lutheri; 50% Chaetoceros mulleri kết hợp với 25% Tahitian Isochrysis và 25% Pavlova.lutheri để theo dõi sự sinh trưởng.
Kết quả cho thấy các tỉ lệ thức ăn 30% Chaetoceros
mulleri: 35% Tahitian Isochrysis:
35% Pavlova.lutheri; 20% Chaetoceros mulleri: 40% Tahitian Isochrysis: 40% Pavlova.lutheri cho sự sai khác không
rõ ràng (P > 0,05). Khi kết hợp với tỉ lệ 50% C.mulleri: 25% T.Iso: 25%
P.lutheri cho kết quả sai khác rõ
ràng (P < 0,05) về tăng kích thước chiều dài tốt hơn so với chỉ sử dụng các
loài tảo thông thường.[17]
Gần đây Vila và ctv (2006) đã nghiên
cứu ảnh hưởng của khẩu phần hỗn hợp thực vật phù du lên sự tiêu thụ vi tảo và
sự phát triển của ÂT phù du và ÂT đã xuống đáy. Tác giả đã dùng các loài tảo P.lutheri(P), I.affinis, I.galbana(T),
C.calcitrans, C.pummilum(Cp) để nuôi ÂT hầu. Kết quả cho thấy: Ở khẩu phần
25%T : 75%Cp, ÂT hầu sinh trưởng tốt
nhất. Tác giả cũng xác định với khẩu phần hỗn hợp tảo nói trên, mức sử dụng vi
tảo của hầu thay đổi theo giai đoạn phát triển. Trong tuần lễ đầu mức tiêu thụ
vi tảo của ÂT hầu thấp nhất < 10000tb/ÂT, sau đó từ ngày thứ 8 - 10 tiêu thụ
90000tb/ÂT. Từ ngày thứ 20 đến 21 mức tiêu thụ chỉ còn 40000tb/ngày/ÂT.[18]
Khi nghiên cứu quy trình sản xuất giống hầu, Dégremont và
ctv (2006) cho thấy 2 ngày sau khi thụ tinh thì ương với mật độ 10 ÂT/ml và 7
ngày sau khi thụ tinh ương với mật độ 5 ÂT/ml, sử dụng kết hợp 3 loài tảo làm
thức ăn Chaetoceros pummilum, Paolova
lutheri và Tetraselmis suecica,
nước biển sạch được thay 3 lần/tuần.[16]
Qua
trên ta thấy sản xuất giống hầu TBD nhân tạo trên thế giới đã đạt được những thành
tựu đáng kể, giống nhân tạo có chất lượng tốt, kích thước đồng đều và có thể
phát triển nuôi chủ động nhất là nuôi hầu rời, hầu treo, hầu tam bội thể. Nhưng
đến nay sản lượng hầu giống chưa cao, tỉ lệ sống đến con giống Spat còn thấp.
Các trại giống mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% yêu cầu về con giống.[3]
2.3.2. Tình hình nghiên cứu về sản xuất giống hầu trong nước
Hiện nay
ở nước ta nghề nuôi hầu bắt đầu phát triển, đã có một số công trình nghiên cứu
nhất định về hầu nói chung và hầu TBD nói riêng.
Các nghiên cứu về vi tảo làm thức ăn cho ÂT hầu được tiến
hành trong 20 - 30 năm gần đây, những năm đầu 1970, trạm Nghiên cứu NTTS nước
lợ Quý Kim - Hải Phòng đã kết hợp thu nuôi sinh khối tảo Silic làm thức ăn cho
ấu trùng, đồng thời tiến hành một số thí nghiệm cơ bản (Đặng Đình Kim,1999).
Một số loài tảo đơn bào mới được nghiên cứu sử dụng trong quá trình sinh sản ĐVTM hai mảnh vỏ. Từ sau năm 1990
có công trình nghiên cứu về nuôi một số loài tảo đơn bào làm thức ăn cho ấu
trùng trai biển Pieria martensii
của Lê Viễn Chí, Phạm Thị Loan và Hà
Đức Thắng. Kết quả là đã chọn được 3 loài tảo làm thức ăn cho ấu trùng trai
biển là Chlamydomonas sp, Chaetoceros
calcitrans và Dunaliella sp. Hà Đức Thắng và ctv cũng sử dụng Nanochloropsis occulata, Chaetoceros
calcitrans, Chlorella sp, Isochrysis galbana, Parlova lutheri, Tetraselmis sp,
Dunaliela sp...làm thức ăn cho vẹm xanh và hầu cửa sông.[7],[4]
Năm 2002, Viện NCNTTS 1 đã
tiếp nhận công nghệ sản xuất giống hầu TBD từ trung tâm nghề cá Cromila, bang
New South Wales, đã cho đẻ và ương nuôi thành con giống, nhưng tỉ lệ sinh sản đạt được quá thấp, chỉ 8% (6 con cái, 10 con
đực tham gia sinh sản trong số 200 con). Tỷ lệ sống đến con giống còn thấp chỉ
được 1.7% (20 vạn con giống chỉ đạt 12 triệu ÂT chữ D).[3]
Để phục vụ cho sản xuất giống hầu nhân tạo thì các nghiên
cứu về thức ăn độ mặn ảnh hưởng đến ấu trùng hầu TBD ở Việt Nam hiện nay vẫn
đang được tiến hành và chưa có các báo cáo cụ thể nào được công bố. Tuy nhiên
đối với hầu trưởng thành, khi độ mặn nước xuống quá thấp chúng sẽ khép vỏ lại
và không lấy thức ăn, khi độ mặn tăng lên trong khoảng thích hợp chúng mới tiếp
tục bắt mồi (Hà Đức Thắng, 2002).[4]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Thu (2003) trên hầu và
điệp quạt cho thấy: đối với nhuyễn thể nói chung trong giai đoạn phát triển
phôi và giai đoạn ÂT thì độ mặn cũng có vai trò hết sức quan trọng, nó ảnh
hưởng trực tiếp đến sự phát triển cũng như tỉ lệ sống của phôi. Ở mỗi giai đoạn
phát triển, ảnh hưởng của độ mặn cũng có sự khác nhau. Ví dụ, hầu cửa sông
trưởng thành có thể thích nghi được với độ mặn rất lớn 5 - 30‰ nhưng sống tốt hơn ở độ mặn 10 - 30‰.[7]
Và đến năm 2005 Lê Trung Kỳ và ctv
nghiên cứu trên 3 loại thức ăn: Nanochloropsis
sp, Chaetoceros sp và hỗn hợp 50%
Chaetoceros sp + 50% Nanochloropsis
sp ở 3 mật độ 2000, 3000 và 4000 tb/ml để tìm ra thức ăn thích hợp cho ấu
trùng sò huyết (Anadara grasona). Kết
quả cho thấy sò có tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khi cho ăn với Nanochloropsis sp với mật độ 3000 tb/ml.
Đến giai đoạn sống đáy cho ăn hỗn hợp loài tảo đơn bào Nanochloropsis sp, Chaetoceros sp và Isochrysis sp ở mật độ 10.000
tb/ml, sò có tỷ lệ sống cao hơn và tốc độ tăng trưởng nhanh hơn khi cho ăn tảo
đáy hay thức ăn tổng hợp.[5]
Tiếp
tục năm 2006, Viện NCNTTS 1 kết hợp với Công ty Khoa học kỹ thuật thủy sản
Pauchen Đài Loan, chuyên gia cục thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) khảo sát
một số khu vực tại vùng vịnh BTL - Quảng Ninh. Đoàn đã xác định vịnh Bái Tử Long có đủ điều kiện
thuận lợi để phát triển nuôi hầu TBD đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đạt tiêu
chuẩn xuất khẩu.[3]
Do hầu TBD không phân bố tự nhiên ở Việt Nam nên
việc nuôi hầu thương phẩm hiện nay phụ thuộc hoàn toàn vào con giống sản xuất
nhân tạo. Vì vậy, đưa ra các giải pháp nuôi thích
hợp, nuôi tập trung với con giống từ sản xuất nhân tạo cần được quan tâm nhằm
đưa nghề nuôi hầu TBD ở nước ta phát triển mạnh, tạo ra sản lượng lớn để xuất
khẩu.
Như
vậy trong những năm gần đây nuôi trồng thủy sản trên biển đã được nhà nước quan
tâm chú trọng phát triển. Ngoài một số đối tượng nuôi biển có giá trị kinh tế
như cá, giáp xác thì nhóm ĐVTM đang được xem là có nhiều triển vọng phát triển
mạnh trong một vài năm tới. Để có thể đưa nghề nuôi biển trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn, cần tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề như con giống,
kỹ thuật nuôi, môi trường, đặc biệt là hoàn thiện công nghệ sản xuất giống nhân
tạo. Và trong đó có nghề nuôi hầu TBD ở nước ta cũng mới phát triển. Nhưng
nguồn giống vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu của người nuôi, mặc dù đã có một số
công trình nghiên cứu khoa học về quy trình sản xuất giống hầu TBD nhưng nguồn
giống vẫn chưa ổn định. Để đáp ứng đủ số lượng con giống cũng như nâng cao chất
lượng con giống thì cần có những nghiên cứu sâu hơn để hoàn thiện quy trình sản
xuất.
PHẦN III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian thí nghiệm
3.1.1. Đối tượng
3.1.2. Địa điểm
Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc - Xuân Đám, Cát Hải, Hải Phòng.
3.1.3. Thời gian
Thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2010.
3.2. Phương pháp thí nghiệm
- Thu thập thông tin thứ cấp từ sách
báo, tài liệu tham khảo.
- Thu thập thông tin sơ cấp qua phỏng
vấn, qua quá trình thí nghiệm, quan sát, đo đạc trực tiếp.
3.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
3.2.2 Vật liệu thí nghiệm
- Nhiệt kế.
- Máy đo độ mặn (khúc xạ kế), pH, oxy.
- Bể Composite 0,4 m3; 0,5 m3; 1 m3.
- Kính hiển vi soi nổi.
- Máy ảnh kỹ thuật số, trắc vi thị kính.
- Buồng đếm tảo, buồng đếm động vật phù du.
- Hệ thống sục khí.
- Dụng cụ thu mẫu, Formol cố định mẫu (37%).
- Túi nilon, hoá chất nuôi tảo.
- Thức ăn: Tảo Nanochloropsis
oculata, Isochrysis galbana, Chaetoceros calcitrans, Chroomonas salina.
- Muối.
- Nước ngọt sạch.
- Chlorine.
- Axit chanh.
3.2.3. Phương pháp thu mẫu
Ø Xác định độ mặn bằng máy đo khúc xạ kế quang học (osk).
Ø
Xác định độ pH bằng máy đo
pH điện tử (pH – Merter).
ØXác định độ oxy hòa tan bằng phương pháp Winkler.
ØXác định nhiệt độ bằng nhiệt kế bách phân thủy ngân.
ØĐo kích thước ÂT hầu bằng trắc vi thị kính.
ØĐếm ấu trùng bằng buồng đếm động vật phù du.
ØĐịnh lượng tảo trên buồng đếm hồng cầu Thommas
3.3. Bố trí thí nghiệm.
*
Nguồn nước sử dụng cho cả hai thí nghiệm là:
Nguồn nước biển sạch. Trước khi đưa vào sử dụng nước biển được bơm vào ao
chứa, nước được để lắng trong vòng 48 giờ. Và được lọc qua hệ thống lọc thô,
sau đó qua hệ thống lọc cát tinh. Trong quá trình sản xuất các hệ thống bể lọc
và ao chứa nước biển được vệ sinh định kỳ.
Hệ thống bể thí nghiệm được bố trí
trong nhà, được đánh số và bốc thăm ngẫu nhiên cho mỗi công thức. Các yếu tố
môi trường đồng nhất giữa các nghiệm thức.
Trứng hầu TBD sau khi thụ tinh được 24h đã chuyển hoàn
toàn thành ÂT chữ D được lọc và đếm số lượng sau đó thả vào các bể thí nghiệm.
Mật độ ban đầu ở mỗi công thức là 5 ÂT/ml.
* Quản lý bể ương ấu trùng
Các bể ương ấu trùng được thay nước định kỳ. Nước trong bể ương được thay
1/2 thể tích bể mỗi ngày và thay 100% sau hai ngày, kết hợp chuyển bể mới. Sục
khí nhẹ liên tục 24/24.
* Xác định số lượng ấu trùng phù du trong bể:
Cứ 3 ngày tiến hành lọc ÂT 1 lần. Sau khi tháo cạn bể nước
ÂT được gom lại trong xô có thể tích nước là 10(L) có gắn sục khí. Dùng pipet
lấy ngẫu nhiên 1ml nước trong xô đưa vào buồng đếm sau đó nhỏ 1 đến 2 giọt
Formalin để cố định mẫu và đếm toàn bộ số ÂT trong buồng đếm. Từ đó tính được
lượng ÂT trong bể:
N = n.104 (ÂT/ bể)
Trong đó: N: Số ÂT trong bể.
n:
Tổng số ÂT trong buồng đếm
* Các chỉ tiêu theo dõi
Theo dõi tỷ lệ sống, sự sinh trưởng và thời gian biến
thái của ÂT, cứ 3 ngày đo, đếm ÂT 1 lần. Theo dõi tỷ lệ sống và tốc độ tăng
trưởng của ÂT dựa vào công thức của Ball & Jones (1960).
* Phương pháp theo dõi
tốc độ sinh trưởng về chiều cao của ấu trùng
- Hàng ngày ÂT ở các lô thí nghiệm được thu và
quan sát, đo đạc kích thước trên kính hiển vi vào buổi sáng. Mỗi công thức thí
nghiệm thu 3 mẫu (mỗi mẫu thu 30 ÂT). Lấy kết quả trung bình cho mỗi công thức
thí nghiệm.
* Phương pháp xác định tỷ lệ sống
Dùng phương pháp thể tích để xác định tỉ lệ sống: dùng cốc đong và pipet
để thu mẫu. Sau khi tháo cạn bể nước, ÂT được gom lại trong
xô có thể tích nước là 10(L) có gắn sục khí. Dùng pipet lấy ngẫu nhiên 1ml nước
trong xô đưa vào buồng đếm sau đó nhỏ 1 đến 2 giọt Formalin để cố định mẫu và
đếm toàn bộ số ÂT trong buồng đếm (n). Từ đó tính được lượng ÂT trong bể. Mỗi bể thí nghiệm thu 3 mẫu, và đếm 3 lần cho một
mẫu. Kết quả cuối cùng là trung bình của 3 lần đếm. Số lượng ấu trùng được tính
bằng đơn vị ÂT/ bể.
* Phương pháp theo dõi thời gian biến
thái của ấu trùng chữ D đến ấu trùng Spat
Ấu trùng ở các lô thí nghiệm được thu và quan sát trên kính hiển vi vào
mỗi buổi sáng. Mỗi công thức thí nghiệm thu 3 mẫu. Lấy kết quả trung bình cho
mỗi công thức thí nghiệm. Thời điểm xác định ấu trùng chuyển giai đoạn được
tính khi có trên 50% ấu trùng chuyển sang giai đoạn kế tiếp.
3.3.1. Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng
Thí nghiệm được bố trí trong 12 bể composite
0.5m3. Mực nước trong bể là 300L. Các loài tảo dùng bố trí thí
nghiệm: Isochrysis galbana, Chaetoceros
calcitrans, Nanochloropsis oculata, Chroomonas salina.
Độ mặn trong thí nghiệm là mức độ
mặn môi trường nước biển tại khu vực Cát Bà dao động trong khoảng: 28 – 31‰.
Thí nghiệm được bố trí theo 4 công thức,
mỗi công thức được lặp lại 3 lần.
CT1: 1/3 I.galbana + 1/3 Chroomonas salina + 1/3 N.
oculata.
CT2: 1/3 I.galbana + 1/3 C.calcitrans + 1/3 N.oculata.
CT3: 1/3 C.calcitrans + 1/3 Chroomonas
salina + 1/3 N.oculata.
CT4: 1/3 I.galbana + 1/3 C.calcitrans+
1/3 Chroomonas salina
Nguồn tảo dùng làm
thức ăn cho ÂT trong quá trình thí nghiệm được cung cấp từ bộ phận nuôi cấy tảo
của trung tâm.
* Sơ
đồ bố trí thí nghiệm:

3.3.2. Thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng.
+ Thức ăn: Sử dụng công thức thức ăn có chất lượng tốt nhất ở thí
nghiệm thức ăn trên.
- Thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn được
bố trí theo 3 công thức, mỗi công thức được lặp lại 3 lần bao gồm: CT1: 20‰;
CT2: 25‰; CT3: 30‰. Thí nghiệm được bố trí trong các bể composite
0.4m3. Mực nước trong bể là 300L. Sử dụng 3 bể 1m3 để pha
3 mức độ mặn khác nhau để chuẩn bị cho lọc và định lượng ÂT. Để tạo môi trường muối cần thiết cho thí nghiệm, dùng
nước ngọt, nước biển có độ muối 30‰, nước chạt có độ muối (150 - 170‰) để điều
chỉnh độ muối cần dùng.
- Độ muối pha
theo công thức sau:
C2 C-C1
Trong đó :
C: Độ muối
cần pha.
C1: Độ muối
nước ngọt.
C2: Độ muối
nước chạt.
* Sơ đồ bố trí thí nghiệm

3.4. Công thức xác định
* Công thức tính số lượng tảo
Để xác định mật độ tảo trước khi cho ÂT ăn, dùng các phương
pháp đếm tế bào bằng Buồng đếm Thomma.
Số lượng tế bào tảo được
tính theo công thức:
D = A. 25. 104.
a
Trong đó: D: Mật độ tế bào (số tế bào/ml).
A: Số tế bào trung bình trong một ô lớn qua các
lần đếm.
a: Hệ số pha loãng dung dịch tảo (nếu có).
25. 104: Hệ số nhân tính số tế bào trong 1 ml.
* Công thức tính lượng tảo cho ấu trùng ăn:
Tổng số tảo cho ăn = [Tổng số ấu trùng x tế bào/ấu trùng/ngày]
* Xác định tốc độ
sinh trưởng (Gt) về chiều cao của ấu trùng tính theo công thức của Ball &
Jones, 1960..
H (mm) = (H2
- H1) / (t2 - t1)
Trong đó: H1:
Là chiều cao vỏ tại thời gian t1 (µm).
H2: Là chiều cao vỏ tại thời gian t2 (µm).
* Xác
định tỷ lệ sống của ấu trùng hầu (TLS) tính theo công thức của Ball &
Jones, 1960.
TLS (%) = N2 /
N1 x 100 (%)
Trong đó: N1:
Là số cá thể tham gia thí nghiệm.
N2: Là số cá thể thu được khi kết thúc thí
nghiệm.
3.5. Xử lý số liệu
Số liệu được tổng hợp và xử lý phân tích bằng các phần
mềm: Excell 2003, SPSS.
PHẦN IV. KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN
* Nguồn gốc ấu trùng thí nghiệm
Nguồn
gốc ấu trùng thí nghiệm được tiếp nhận từ thí nghiệm trước.
* Điều kiện môi trường
Kết quả
theo dõi môi trường trong suốt quá trình thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến
ấu trùng Hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas) được thể hiện:



Các yếu tố môi trường trong thời gian tiến hành thí nghiệm từ ngày 14
tháng 05 đến 30 tháng 05 năm 2010 tương đối ổn định: Nhiệt độ nước dao động
trong khoảng 26.5 – 30oC. Độ mặn từ 28 – 30‰. Trong quá trình ương
ÂT yếu tố nhiệt độ và độ mặn luôn dao động do lượng nước được thay hàng ngày;
pH từ 7.6 – 8.2, trong ngày 18/05 yếu tố pH có biến động là: 7.7 - 8.2, do lượng tảo cho ăn và chất
thải ở đáy bể tăng, đã có biện pháp xử lý là chuyển ÂT sang bể mới thay nước
100%, kết hợp sử dụng chế phẩm vi sinh Super VS tạt đều mặt bể, môi trường ương
nuôi được ổn định. Oxy 5.6 – 7mg/l. Sự
dao động của các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm không lớn, hệ
thống thí nghiệm được bố trí ở trong nhà, nên các yếu tố môi trường trong
các lô thí nghiệm về thức ăn tại trại Cát Bà không có biến động lớn và đều nằm
trong ngưỡng thích hợp cho ấu trùng sinh trưởng và phát triển. Môi trường ương
nuôi ÂT tương đối ổn định, do công tác quản lý bể ương tốt như thay
nước định kỳ. Nước trong bể ương được thay 1/2 thể tích bể mỗi ngày và thay
100% sau hai ngày, định kỳ sử dụng chế phẩm vi sinh Super VS. Các biện pháp
quản lý bể ương có tác dụng rất tốt, nó không chỉ tăng độ chính xác của kết quả
thí nghiệm mà còn là điều kiện tốt cho sản xuất giống nhuyễn thể.
+ Điều kiện môi trường trong thí nghiệm ảnh
hưởng của độ mặn:
Kết quả theo
dõi môi trường trong suốt quá trình thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn đến ấu
trùng Hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas) được thể hiện:


Các yếu tố môi trường
trong thời gian tiến hành thí nghiệm từ 15 tháng 06 đến 30 tháng 06 năm 2010
tương đối ổn định: nhiệt độ nước dao động trong khoảng 27 – 30oC. pH
từ 7.6 – 8.2, ngày 17/06 pH có biến động trong khoảng từ 7.7 - 8.2, do chất
thải trong bể ương tăng, đã có biện pháp xử lý là chuyển ÂT sang bể mới thay
nước 100%, kết hợp sử dụng chế phẩm vi sinh Super VS tạt đều mặt bể, môi trường
ương nuôi được ổn định. Oxy 5.8 – 6.6 mg/l. Sự dao động của các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm không
lớn, hệ thống thí nghiệm được bố trí ở trong nhà, nên các yếu tố môi trường trong
các lô thí nghiệm về độ mặn tại trại Cát Bà không có biến động lớn và đều nằm
trong ngưỡng thích hợp cho ấu trùng sinh trưởng và phát triển. Môi trường ương
nuôi ÂT tương đối ổn định, do công tác quản lý bể ương tốt như thay
nước định kỳ. Nước trong bể ương được thay 1/2 thể tích bể mỗi ngày và thay
100% sau hai ngày, định kỳ sử dụng chế phẩm vi sinh Super VS. Công tác quản lý
bể ương tốt có tác dụng rất tốt, nó không chỉ tăng độ chính xác của kết quả thí
nghiệm mà còn là điều kiện tốt cho sản xuất giống nhuyễn thể.
4.2. Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng.

Kết quả kiểm tra kích thước
ÂT hầu định kỳ cho thấy ấu trùng ở lô thí nghiệm công thức 4 đạt kích thước vỏ
341.78mm, sau đó đến công thức 2 là: 320.89mm, công thức 3 là: 313.44mm, thấp nhất là công thức 1 đạt 303.11mm. Kết quả được thể hiện ở (Hình 4.8).
|
18.2c
±
|
||||
Trong cùng một hàng các chữ cái
đi kèm giá trị trung bình khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê
(p<0.05)
Từ 4 công thức thức ăn thí nghiệm đã bố trí, nhìn chung
có sự chênh lệch về chiều cao vỏ trong thời gian ương nuôi 13 - 16 ngày ương
nuôi, hầu đạt kích thước chiều cao vỏ trung bình khác
nhau. Qua phân tích ANOVA (phụ lục 1) sự sai
khác trên có ý nghĩa thống kê sinh học (p < 0.05). Chứng tỏ CT4: 1/3I.galbana + 1/3C.calcitrans+ 1/3Chroomonas
salina, là công thức thức ăn tốt nhất, ÂT hầu đạt tốc độ sinh trưởng
cao trong 4 công thức thí nghiệm.
So với các nghiên cứu trước của FAO (2003), với quy trình ương nuôi thường
giới hạn trong các loài tảo dễ nuôi và thường cấy đại trà khắp các vùng sản
xuất. Các loài tảo hay sử dụng là: Nannochloropsis
sp cho ăn ở giai đoạn ÂT chữ D khoảng 2 ngày, sau đó cho ăn Isochrysis sp từ giai đoạn tiền đỉnh vỏ
đến giai đoạn trung kì đỉnh vỏ, tảo Chaetoceros
sp cho ăn từ trung kì đến spat, kích thước đạt 300-350µm. So với việc cho
ăn kết hợp cùng một lúc 3 loài tảo trong thí nghiệm trên thì kích thước đạt là:
303.11 - 341.78µm. Như vậy quá trình cho ăn các loài tảo đơn lẻ khác nhau ÂT
đạt kết quả tăng trưởng chiều cao vỏ tốt hơn là cho ăn kết hợp cả 3 loài tảo trong
suôt quá trình phát triển qua các giai đoạn như ở thí nghiệm trên.[3]
Tốc độ tăng trưởng của ÂT cũng phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của
ÂT. Ấu trùng lớn chậm từ giai đoạn ÂT chữ D đến tiền kì đỉnh vỏ thức ăn chủ yếu
là I.galbana và N.oculata vì hai loài
tảo này có kích thước nhỏ nhất, kích thước chỉ dao động (3 – 5 µm). Trong các
loài tảo trên thì I.galbana và Chroomonas salina cung cấp cho ÂT có hàm
lượng dinh dưỡng cao, còn C.calcitrans
rất cần thiết cho ÂT trong quá trình hình thành vỏ. Nếu cung cấp đầy đủ 3 loại
tảo như trên I.galbana, C.calcitrans, Chroomonas
salina sẽ giúp ÂT sinh trưởng rất tốt. Tảo N.occulata chỉ tốt cho ÂT trong giai đoạn đầu, vì có thể do nó có
kích thước nhỏ và hàm lượng dinh dưỡng thấp.[3]
Kết quả phân tích cho thấy tốc độ tăng trưởng bình quân chiều cao vỏ của ÂT
hầu theo ngày là tương đối lớn, cao nhất là CT4 đạt 18.2 ± 0.33mm/ngày, tiếp đến là CT2: 16.88 ± 0.073mm/ngày; CT3: 16.4 ± 0.08mm/ngày
và thấp nhất là CT1: 15.76 ± 0.035mm/ngày.
Như vậy sử dụng kết hợp 3 loài tảo I.galbana,
C.calcitrans, Chroomonas salina cho tốc độ sinh trưởng lớn nhất. Kết hợp 3
loại tảo trên cho ăn ngay từ đầu giúp cho ấu trùng phát triển tốt, tăng trưởng
nhanh do sự đa dạng chất dinh dưỡng có trong tảo cần thiết cho ấu trùng qua các
giai đoạn biến thái từ giai đoạn chữ D-Veliger đến Spat. Điều này tương tự với
kết quả các thí nghiệm cho sinh sản nhân tạo loài hai mảnh vỏ như Điệp, Trai
ngọc, Vẹm, Hầu cửa sông, Ngao, Sò huyết, Tu hài...của Hà Đức Thắng, giáo sư
Phạm Thược đã sử dụng các loài tảo Isochrysis,
Chaeotoceros, Chroomonas ương nuôi ấu trùng đạt tốc độ tăng trưởng rất cao
so với ương ấu trùng bằng các loại tảo khác. Và kết quả nghiên cứu của (Brown
và ctv, 1989) cũng khẳng định, sinh vật nói chung và nhuyễn thể hai mảnh vỏ nói
riêng được cho ăn bằng thức ăn là hỗn hợp của các loài tảo đơn bào sẽ cho tốc
độ tăng trưởng cao hơn so với các sinh vật chỉ sử dụng một loài tảo. Một loài
tảo có thể có một chất dinh dưỡng quan trọng này nhưng lại thiếu chất dinh
dưỡng quan trọng khác. Do đó việc sử dụng hỗn hợp các loài tảo sẽ cung cấp đủ
các chất dinh dưỡng cần thiết có trong các loài tảo khác nhau.[8],[7],[4],[12].
Kết quả thí nghiệm trên phàn nào được lý giải qua nghiên
cứu của Dove và ctv (2002 ). Tác giả đã kết hợp giữa Chaetoceros mulleri với tảo Tahitian
Isochrysis và Pavlova.lutheri, theo tỉ lệ 30% Chaetoceros mulleri, 35% Tahitian
Isochrysis, 35% Pavlova.lutheri; 20% Chaetoceros mulleri, 40% Tahitian Isochrysis, 40% Pavlova.lutheri, 50% Chaetoceros mulleri kết hợp với 25% Tahitian Isochrysis và 25% Pavlova.lutheri để theo dõi sự sinh
trưởng. Kết quả cho thấy tỉ lệ thức ăn thông thường từ theo tỉ lệ 30% Chaetoceros mulleri, 35% Tahitian Isochrysis, 35% Pavlova.lutheri; 20% Chaetoceros mulleri, 40% Tahitian Isochrysis, 40% Pavlova.lutheri cho sự sai khác không
rõ ràng (P > 0,05). Khi kết hợp với tỉ lệ 50% C.mulleri, 25% T.Iso, 25%
P.lutheri cho kết quả sai khác rõ
ràng (P < 0,05) về tăng kích thước chiều dài tốt hơn so với chỉ sử dụng các
loài tảo thông thường.[17]
Các công thức còn lại có sự kết hợp của loài tảo Nannochloropsis oculata, đây là loài tảo có kích thước nhỏ nhất
trong các loài tảo, được sử dụng ở giai đoạn đầu của ấu trùng là chủ yếu. Cũng
có thể do kích thước và hàm lượng dinh dưỡng của nó không thích hợp với ÂT ở
các giai đoạn phát triển sau như những loài tảo khác, nên việc kết hợp tảo Nannochloropsis trong các công thức thức
ăn còn lại đã không được hầu sử dụng, trong khí đó các loài tảo cần thiết cho
hầu lại không đủ cho chúng ăn. Điều này ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng về
chiều cao vỏ của ấu trùng hầu, nghĩa là tăng trưởng chiều cao vỏ ở các CT còn
lại thấp hơn so với CT4.
4.2.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỉ lệ sống
Trong cùng một hàng các chữ cái
đi kèm giá trị trung bình khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê
(p<0.05)
Kết quả thí nghiệm về
thức ăn cho ấu trùng từ giai đoạn ấu trùng chữ D đến hậu kì đỉnh vỏ ở 4 công
thức. Qua phân tích ANOVA ở mức ý nghĩa
(α = 0,05) cho thấy chỉ
có sự sai khác ở công thức 4 ( CT4), tỉ lệ sống ở các lô thí nghiệm có sự chênh
lệch đáng kể. Ở công thức 4: I.galbana +
C.calcitrans + Chroomonas salina cho tỉ lệ sống cao nhất đạt: 68.8 ± 2.04%.
Công thức 2 sử dụng thức ăn là tảo:
I.galbana + C.calcitrans + N.oculata và công thức 3: C.calcitrans + Chroomonas
salina + N. Oculata cho tỉ lệ sống tương đương nhau đạt 62.0 ± 1.39%
và 61.3 ± 1.72%. Ở công thức 1 I.galbana + Chroomonas salina + N. Oculata cho tỉ lệ sống thấp hơn 58.9
± 0.75%.
So với nghiên cứu của Lê Trung Kỳ và ctv (2005) trên 3
loại thức ăn: 100% Nanochloropsis sp, 100%
Chaetoceros sp và hỗn hợp 50% Chaetoceros sp: 50% Nanochloropsis sp ở
3 mật độ 2000, 3000 và 4000 tb/ml để tìm ra mật độ và thức ăn thích hợp cho ấu
trùng sò huyết (Anadara grasona). Kết
quả cho thấy sò có tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khi cho ăn với Nanochloropsis sp với mật độ 3000 tb/ml.
Đến giai đoạn sống đáy cho ăn hỗn hợp loài tảo đơn bào Nanochloropsis sp, Chaetoceros sp và Isochrysis sp ở mật độ 10.000
tb/ml, sò có tỷ lệ sống cao hơn và tốc độ tăng trưởng nhanh hơn khi cho ăn tảo
đáy hay thức ăn tổng hợp. Điều này cũng tương tự với kết quả thí nghiệm trên.[5]
Như vậy khi ương nuôi ÂT hầu bằng thức ăn ở CT4 cho tỉ lệ
sống cao hơn các công thức khác. Điều này có thể là do chỉ có 3 loài tảo này có
một số thành phần dinh dưỡng phù hợp cho ÂT hầu phát triển. Sự phối hợp 3 loại
tảo trên sẽ đáp ứng đầy đủ nhu cầu về dinh dưỡng của hầu ở các giai đoạn phát
triển.
4.2.3. Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái của ấu trùng
Thức ăn là một trong những yếu tố quyết định đến thời gian biến thái của ÂT hầu. ÂT sử dụng thức ăn có hàm lượng
dinh dưỡng cao, đầy đủ số lượng thì sẽ chuyển giai đoạn sớm hơn những ÂT sử
dụng thức ăn không đáp ứng đầy đủ về số lượng và chất lượng. Qua quá trình theo
dõi chúng tôi thu được kết quả sau:

Qua
theo dõi định kỳ thời gian chuyển giai đoạn ở 4 công thức thức ăn, chúng tôi nhận thấy ở giai đoạn đầu, thời
gian chuyển giai đoạn trong 4 công thức đều giống nhau (1 ngày). Đến giai đoạn
tiền Umbo thì thời gian biến thái có sự chênh lệch 1 ngày giữa 2 nhóm: CT1, CT4
(5 ngày) và CT2, CT3 (4 ngày). Đến giai đoạn trung Umbo vẫn có sự chênh lệch
CT1, CT3 (9 ngày) còn CT2, CT4 (8 ngày). Giai đoạn hậu Umbo thì sự chênh lệch
là khá lớn: thời gian biến thái nhanh nhất ở CT4 (13 ngày), tiếp đến là CT2 (14 ngày), chậm nhất là CT1
và CT3 (16 ngày). Kết quả này có thể là do sự kết hợp giữa 3 loài tảo ở CT4 rất
phù hợp với hầu giống, CT4 đã cung cấp thức ăn cho hầu giống đầy đủ về số lượng
và đảm bảo về thành phần dinh dưỡng nên thời gian biến thái của ÂT hầu nhìn
chung có nhanh hơn so với các CT khác.
So với các
nghiên cứu trước của FAO (2003), với quy trình ương nuôi thường giới hạn trong
các loài tảo dễ nuôi và thường cấy đại trà khắp các vùng sản xuất. Các loài tảo
hay sử dụng là: Nannochloropsis sp
cho ăn ở giai đoạn ÂT chữ D khoảng 2 ngày, sau đó cho ăn Isochrysis sp từ giai đoạn tiền đỉnh vỏ đến giai đoạn trung kì đỉnh
vỏ, tảo Chaetoceros sp cho ăn từ
trung kì đến spat. Thời gian biến thái khoảng 13-16 ngày khi kích thước đạt
300-350µm. Như vậy so với kết quả thí nghiệm trên thì thời gian chuyển giai
đoạn của ÂT hầu tương đối tốt.[3]
4.3. Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng hầu TBD
Độ muối được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến sự phát triển ấu trùng ĐVTM nói chung và hầu nói riêng. Vì nó liên quan
trực tiếp đến áp suất thẩm thấu của màng tế bào. Khi độ muối quá cao làm cho tế
bào cơ thể bị mất nước, ngược lại khi độ muối thấp thì làm cho cơ thể dễ bị
trương nước. Do đó để sản xuất thành công giống các đối tượng này thì việc tìm
ra được các thang độ muối thích hợp nhất cho sự phát triển của ấu trùng là rất
quan trọng.
Hầu TBD là động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ có
tính rộng muối, có thể trưởng thành có thể thích ứng với sự thay đổi tương đối rộng với biên độ dao
động của độ muối trong môi trường sống (trong khoảng 10 -
42‰ ). Tuy nhiên ở giai đoạn ấu trùng, độ muối lại ảnh
hưởng rất lớn, độ mối trong giai đoạn này có thể dao động
14 - 37‰ nhưng thích hợp nhất là 15 - 25‰.[3],[10],[14]
Kết quả
thí nghiệm ảnh hưởng của độ muối đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu TBD từ giai đoạn
ấu trùng chữ D đến giai đoạn Spat được trình bày dưới đây.
4.3.1. Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng

Đối với giai đoạn ấu trùng hầu TBD,
nồng độ muối có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của
ấu trùng. Kết quả kích thước chiều cao vỏ thu được trong lô thí nghiệm độ mặn
từ 16/06 – 30/06 cho thấy ấu trùng ở lô thí nghiệm 20‰ và 25‰ tăng trưởng về
kích thước vỏ tương đương nhau ở ngày thứ 15 (giai đoạn hậu Umbo) đạt kích
thước trung bình là 329mm và 339.55mm, lô 30‰ đạt kích thước trung bình nhỏ hơn: 310.89mm thể hiện ở (đồ thị 4.10).
Trong cùng một hàng các chữ cái đi
kèm giá trị trung bình khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê
(p<0.05)
Kết quả thí nghiệm ở bảng
4.3, qua Phân tích ANOVA cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều cao vỏ bình
quân/ngày ở cả 3 công thức đều có sự sai khác, sự sai khác trên có ý nghĩa
thống kê sinh học (p < 0.05). Từ kết quả thực tế trên cho thấy ở lô thí
nghiệm độ mặn 25‰ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân: 19.24± 0.141µm/ngày, lô 20‰ là 18.54±0.233µm/ngày, lô 30‰ đạt tốc độ tăng trưởng: 17.33 ± 0.74mm/ngày.
So sánh với kết quả
nghiên cứu của FAO [2003] cho thấy nồng độ muối thích hợp nhất cho ÂT hầu sinh
trưởng và phát triển dao động trong khoảng 20 - 25‰. Nghiên cứu của Park
và ctv [1988] tại Hàn Quốc cũng cho thấy độ mặn thích hợp cho giai đoạn biến
thái của ÂT dao động từ 15 - 25‰. Từ kết quả phân tích trên, chúng tôi đã xác
định được ngưỡng độ mặn phù hợp cho ấu trùng sinh trưởng và biến thái từ giai
đoạn veliger đến hậu Umbo là 20 - 25‰.
4.3.2. Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống :
Trong cùng một hàng các chữ cái đi
kèm giá trị trung bình khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê
(p<0.05)
Kết quả thí nghiệm về ảnh
hưởng của độ mặn từ giai đoạn ấu trùng chữ D đến giai đoạn hậu kì đỉnh vỏ ở
bảng 4.4 cho thấy tỉ lệ sống ở các công thức có sự chênh lệch rõ rệt. Kết quả
phân tích ANOVA (phụ lục 2) ở mức ý nghĩa
(α = 0,05) cho thấy
có sự sai khác về tỷ lệ sống giữa các công thức độ mặn, sự sai khác trên có ý
nghĩa thống kê sinh học (p < 0.05) . Ở độ mặn 25‰ cho tỷ lệ sống cao nhất
đạt 76.7 ± 1,45%, tiếp đến là ở mức độ mặn 20‰ là 69.9 ± 0,80%
và cho tỉ lệ sống thấp nhất là ấu trùng ương ở độ mặn 30‰ là 62.6 ± 2.57%.
Qua kết quả thí nghiệm cho chúng ta thấy ở những độ muối khác nhau tỷ lệ
sống cũng có sự khác nhau. Ở độ muối 25‰ ấu trùng có tỷ lệ sống cao nhất. Trong
ba thang độ mặn thí nghiệm, thì ở độ muối 25‰ thích hợp nhất cho sự phát triển
của ấu trùng ương nuôi ở các giai đoạn sau.
4.3.3. Ảnh hưởng của độ mặn đến thời gian biến thái .
Thời gian biến thái của ấu trùng là một
trong những cơ sở để đánh giá chất lượng môi trường và thức ăn phù hợp cho sự
sinh trưởng và phát triển của ấu trùng, nếu thời gian chuyển giai đoạn của ấu
trùng dài, dẫn tới ấu trùng không bám được vào vật bám và sẽ chết. Kết quả theo
dõi thời gian biến thái của ấu trùng trong thí nghiệm về độ mặn được thể hiện ở
(Hình 4.11 ).

Thời gian biến thái của ÂT hầu thường
gắn liền với tăng trưởng về chiều cao vỏ tức là ở một khoảng kích thước nào đó
ÂT hầu sẽ chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Kết quả thí nghiệm thu
được thời gian biến thái của ÂT có sự chênh lệch không lớn giữa các công thức. Ở
giai đoạn đầu thời gian chuyển giai đoạn trong 3 công thức là khá đồng đều (1
ngày), Đến giai đoạn tiền Umbo thì thời gian biến thái có sự chênh lệch 1 ngày giữa
các công thức: CT1 (5 ngày) và CT2, CT3 (4 ngày). Đến giai đoạn trung Umbo vẫn
có sự chênh lệch giữa CT1, CT2 (8 ngày) và CT3 (9 ngày). Giai đoạn hậu Umbo thì
sự chênh lệch là: ở CT 2 (25‰) thời gian biến thái nhanh nhất, ấu trùng chuyển
sang giai đoạn hậu Umbo và xuất hiện chân bò sau 14 ngày ương nuôi. Lô 20‰ và
lô thí nghiệm 30‰ có thời gian biến thái chậm hơn là 15 ngày. Có kết quả này là do ở mỗi công thức độ mặn khác nhau
đã tác động đến thời gian biến thái của ÂT hầu. Dẫn đến có sự chênh lệch về thời
gian biến thái của ÂT qua các giai đoạn phát triển.
Theo Park và ctv (1988) nhận định rằng: khi độ mặn ngoài khoảng thích hợp ÂT hầu sẽ sinh trưởng và biến thái chậm, thời
gian phù du kéo dài, độ mặn trong giai đoạn này có thể dao động 14 - 37‰ nhưng
thích hợp nhất là 15 - 25‰, phù hợp với kết quả thí nghiệm trên.[3]
Như vậy độ mặn cũng là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến ÂT hầu TBD, đặc
biệt ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của ÂT. Qua kết quả thí nghiệm thu được cho thấy độ mặn ở lô thí nghiệm 25‰
cho tỷ lệ sống cao nhất và thời gian biến thái nhanh nhất (14 ngày).
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN
5.1. Kết luận
1. Sử dụng kết hợp
các loài tảo làm thức ăn cho ấu trùng cho tốc độ sinh trưởng nhanh, tỉ lệ sống
cao, và thời gian biến thái nhanh, nhưng tốt nhất là sự kết hợp của 3 loài tảo
đơn bào (I.galbana, C.calcitrans,
Chroomonas salina), cho kết quả tốt
nhất tốc độ tăng trưởng bình quân trên ngày đạt 18.2 ± 0.33mm/ngày, kích thước vỏ 341.78mm, tỉ lệ sống cao nhất đạt: 68.8 ± 2.04%. Thời gian biến
thái của ấu trùng là 13 ngày.
2. Độ mặn thích hợp cho
sự sinh trưởng và phát triển của ấu trùng là 25‰ cho tốc độ tăng trưởng đạt
19.24 ± 0.141µm/ngày,
kích thước vỏ 339.55mm, tỷ lệ sống đạt 76.7
± 1,45%, thời gian biến thái là 14 ngày.
5.2. Đề xuất
* Tiếp tục tìm hiểu về ảnh hưởng của mật độ ương đến sinh trưởng và tỷ lệ
sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương để tìm ra được mật độ ương thích hợp.
* Cần tìm hiểu ảnh hưởng
của thành phần dinh dưỡng khác nhau của các loại vi tảo dễ nuôi sinh khối ở các
trại giống: Nannochloropsis sp,
Tetraselmis sp, Chaetoceros gracilis, Chaetoceros mulleri, Skeletonema costatum.
* Tìm hiểu ảnh hưởng của mật
độ thức ăn ảnh hưởng đến khả năng lọc của ấu trùng Hầu TBD.
* Tiếp tục
khảo sát và thử nghiệm các thí nghiệm khác nhau để tìm ra độ muối, nâng cao tỷ
lệ sống và phù hợp với điều kiện sinh thái ở Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cao Trường Giang (2007 a
), Thăm dò kỹ thuật nuôi thương phẩm Hầu
TBD (Crassostrea gigas, Thunberg,
1793) tại vịnh Bái Tử Long.
2. Cao Trường Giang (2007 b ),
“Ảnh hưởng của thức ăn và mật độ ương
nuôi đến tỉ lệ sống và phát triển của ấu trùng điệp (Argopecten irradians,
Lanmarck, 1819) trong điều kiện miền Bắc”, luận văn thạc sĩ nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội.
3. Cao Trường Giang, (2007 c ), “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm Hầu Thái Bình
Dương (Crassostrea gigas, Thunberg, 1793) phục vụ xuất khẩu”, thuyết minh
đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
4. Hà Đức Thắng (2006 ) , Kỹ thuật nuôi động vật
thân mềm, NXB Hải Phòng.
5. Lê Trung Kỳ, Hứa Ngọc Phúc, Phan Đăng Hùng, Nguyễn Thị Xuân Thu, Mai Duy
Minh, La Xuân Thảo và Nguyễn Văn Nhâm (2005), Nghiên cứu thức ăn thích hợp cho sò huyết
Anadara granosa Linnaeus,1758 trong sản xuất giống, Trong tuyển tập báo cáo
khoa học hội thảo ĐVTM toàn quốc lần thứ tư – NXB Nông nghiệp, trang 363-369.
6. Ngô Anh Tuấn. Giáo trình, bài giảng kỹ thuật sản xuất giống và
nuôi động vật thân mềm.
7. Nguyễn Thị Xuân Thu (2005), Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi động vật thân mềm, Giáo trình cao
học.
8. Phạm Thị Khanh (2006), Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của Điệp (Argopecten irradians,
Lanmarck 1819) tại Cát Bà - Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ Nông Nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội.
9. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản 1 (2003), Quy hoạch tổng thể và dự án phát triển nuôi
Hải sản trên vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng giai đoạn 2002 – 2010.
Tài liệu
tiếng Anh
10. Byung Ha
Park, Mi Seon Park, Bong Yeoul Kim, Sung Bum Hur, Seong Jun Kim (1988 ).
Culture of the Pacific oyster (Crassostrea gigas) in the Korea.
Prepared for Training Course on Oyster Culture conducted by the national Fisheries
Research and Development Agency, Republic of Korea.
11. Darrell Hickey, August (1997 ), “Observation and Activities Report from
the Pacific Oyster (Crassostrea gigas) Hatchery, Laboratorio de Cultivo de
Moluscos Santa Catarina, Brazil”.
12. Emanuele Ponis, René Robert,
Giuliana Parisi, (2003 ). Nutritional
value of fresh and concentrated algal diets for larval and juvenile Pacific
oysters (Crassotrea gigas). Aquaculture 221: 419-505.
13. FAO (2000 -
2008), FOOD AND AGRICULTURE ORGANIZATION OF THE UNITED NATION, Fisheries and Aquaculture Department.
14. FAO, (2003 ).
Cultured Aquatic Species Information Programe: Crassostrea gigas.
15. Grove-Jones, (1986 ),
Pacific Oyster Aquaculture in South
Australia, Fact sheet.
16.
Lionel Dégremont, Bruno Ernande, Edouard Bédier and Pierre Boudry, (2007
). Summer mortality of hatchery- produced
Pacific oyster spat (Crassotrea gigas). Aquaculture 262: 41-53.
19. vietlinh.com.vn
20. www.khuyennongvn.gov.vn
Phụ lục 1. Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng, tỉ lệ sống và thời gian biến thái
của ấu trùng hầu TBD từ giai đoạn chữ D đến hậu kì đỉnh vỏ.
* Tỉ lệ sống
|
CT Thức ăn
|
Số lần lặp
|
Tổng số ấu trùng thí nghiệm (ÂT)
|
Tổng số ấu trùng đến giai đoạn hậu kì đỉnh vỏ ( ÂT )
|
Tỉ lệ sống (%)
|
Tỉ lệ sống trung bình (% )
|
|
CT1
|
1
|
1500000
|
885000
|
59.00
|
58.9 ± 0.75
|
|
2
|
1500000
|
902000
|
60.13
|
||
|
3
|
1500000
|
863000
|
57.53
|
||
|
CT2
|
1
|
1500000
|
873000
|
58.20
|
62.0 ±
1.39
|
|
2
|
1500000
|
956000
|
63.73
|
||
|
3
|
1500000
|
963000
|
64.20
|
||
|
CT3
|
1
|
1500000
|
872000
|
58.13
|
61.3 ± 1.72
|
|
2
|
1500000
|
961000
|
64.07
|
||
|
3
|
1500000
|
924000
|
61.60
|
||
|
CT4
|
1
|
1500000
|
986000
|
65.73
|
68.8 ± 2.04
|
|
2
|
1500000
|
1090000
|
72.67
|
||
|
3
|
1500000
|
1021000
|
68.07
|
* Xử lý số
liệu bằng phần mềm spss
|
Descriptives
|
||||||||
|
Tilesong
|
||||||||
|
|
N
|
Mean
|
Std. Deviation
|
Std. Error
|
95% Confidence Interval for Mean
|
Minimum
|
Maximum
|
|
|
Lower Bound
|
Upper Bound
|
|||||||
|
CT1
|
3
|
58.8867
|
1.30370
|
.75269
|
55.6481
|
62.1252
|
57.53
|
60.13
|
|
CT2
|
3
|
62.0433
|
3.33671
|
1.92645
|
53.7545
|
70.3322
|
58.20
|
64.20
|
|
CT3
|
3
|
61.2667
|
2.98400
|
1.72281
|
53.8540
|
68.6793
|
58.13
|
64.07
|
|
CT4
|
3
|
68.8233
|
3.53080
|
2.03851
|
60.0523
|
77.5943
|
65.73
|
72.67
|
|
Total
|
12
|
62.7550
|
4.59188
|
1.32556
|
59.8375
|
65.6725
|
57.53
|
72.67
|
|
tilesongLSD
|
||||||||
|
(I) nghiemthuc
|
(J) nghiemthuc
|
Mean Difference (I-J)
|
Std. Error
|
Sig.
|
95% Confidence Interval
|
|||
|
Lower Bound
|
Upper Bound
|
|||||||
|
|
CT1
|
|
CT2
|
-3.15667
|
2.38761
|
.223
|
-8.6625
|
2.3492
|
|
CT3
|
-2.38000
|
2.38761
|
.348
|
-7.8858
|
3.1258
|
|||
|
CT4
|
-9.93667*
|
2.38761
|
.003
|
-15.4425
|
-4.4308
|
|||
|
CT2
|
|
CT1
|
3.15667
|
2.38761
|
.223
|
-2.3492
|
8.6625
|
|
|
CT3
|
.77667
|
2.38761
|
.753
|
-4.7292
|
6.2825
|
|||
|
CT4
|
-6.78000*
|
2.38761
|
.022
|
-12.2858
|
-1.2742
|
|||
|
CT3
|
|
CT1
|
2.38000
|
2.38761
|
.348
|
-3.1258
|
7.8858
|
|
|
CT2
|
-.77667
|
2.38761
|
.753
|
-6.2825
|
4.7292
|
|||
|
CT4
|
-7.55667*
|
2.38761
|
.013
|
-13.0625
|
-2.0508
|
|||
|
CT4
|
|
CT1
|
9.93667*
|
2.38761
|
.003
|
4.4308
|
15.4425
|
|
|
CT2
|
6.78000*
|
2.38761
|
.022
|
1.2742
|
12.2858
|
|||
|
CT3
|
7.55667*
|
2.38761
|
.013
|
2.0508
|
13.0625
|
|||
|
*. The mean difference is significant at the
0.05 level.
|
||||||||
* Tăng trưởng về kích thước.
|
Nghiệm thức
|
Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng về kích thước
|
|||||
|
ÂT chữ D Htb
|
Lần lặp 1
(Hậu kì đỉnh vỏ)
|
Lần lặp 2
(Hậu kì đỉnh vỏ)
|
Lần lặp 3
(Hậu kì đỉnh vỏ)
|
TTTB CT
|
TTTB/ ngày
|
|
|
CT1
|
51
|
302
|
304
|
303.33
|
303.11
|
15.76
|
|
CT2
|
51
|
319
|
321.33
|
322.33
|
320.89
|
16.88
|
|
CT3
|
51
|
312.33
|
316
|
312
|
313.44
|
16.4
|
|
CT4
|
51
|
343.33
|
332
|
350
|
341.78
|
18.2
|
* Xử lý
số liệu bằng phần mềm spss. Kichthuoc
|
||||||||
|
|
N
|
Mean
|
Std. Deviation
|
Std. Error
|
95% Confidence Interval for Mean
|
Minimum
|
Maximum
|
|
|
Lower Bound
|
Upper Bound
|
|||||||
|
CT1
|
3
|
15.7567
|
.06110
|
.03528
|
15.6049
|
15.9084
|
15.69
|
15.81
|
|
CT2
|
3
|
16.8833
|
.12583
|
.07265
|
16.5708
|
17.1959
|
16.75
|
17.00
|
|
CT3
|
3
|
16.4000
|
.13892
|
.08021
|
16.0549
|
16.7451
|
16.31
|
16.56
|
|
CT4
|
3
|
18.1733
|
.57117
|
.32976
|
16.7545
|
19.5922
|
17.56
|
18.69
|
|
Total
|
12
|
16.8033
|
.96081
|
.27736
|
16.1929
|
17.4138
|
15.69
|
18.69
|
|
Multiple Comparisons
|
||||||||
|
Kichthuoc
LSD
|
||||||||
|
(I) nghiemthuc
|
(J) nghiemthuc
|
Mean Difference (I-J)
|
Std. Error
|
Sig.
|
95% Confidence Interval
|
|||
|
Lower Bound
|
Upper Bound
|
|||||||
|
|
CT1
|
|
CT2
|
-1.12667*
|
.24668
|
.002
|
-1.6955
|
-.5578
|
|
CT3
|
-.64333*
|
.24668
|
.031
|
-1.2122
|
-.0745
|
|||
|
CT4
|
-2.41667*
|
.24668
|
.000
|
-2.9855
|
-1.8478
|
|||
|
CT2
|
|
CT1
|
1.12667*
|
.24668
|
.002
|
.5578
|
1.6955
|
|
|
CT3
|
.48333
|
.24668
|
.086
|
-.0855
|
1.0522
|
|||
|
CT4
|
-1.29000*
|
.24668
|
.001
|
-1.8588
|
-.7212
|
|||
|
CT3
|
|
CT1
|
.64333*
|
.24668
|
.031
|
.0745
|
1.2122
|
|
|
CT2
|
-.48333
|
.24668
|
.086
|
-1.0522
|
.0855
|
|||
|
CT4
|
-1.77333*
|
.24668
|
.000
|
-2.3422
|
-1.2045
|
|||
|
CT4
|
|
CT1
|
2.41667*
|
.24668
|
.000
|
1.8478
|
2.9855
|
|
|
CT2
|
1.29000*
|
.24668
|
.001
|
.7212
|
1.8588
|
|||
|
CT3
|
1.77333*
|
.24668
|
.000
|
1.2045
|
2.3422
|
|||
|
*. The mean difference is significant at the
0.05 level.
|
||||||||
.* Thời gian biến thái.
|
Giai đoạn
|
Thời gian biến thái (ngày)
|
|||
|
CT1
|
CT2
|
CT3
|
CT4
|
|
|
Ấu trùng chữ D (Veliger)
|
1
|
1
|
1
|
1
|
|
Tiền Umbo
|
5
|
4
|
4
|
5
|
|
Trung Umbo
|
9
|
8
|
9
|
8
|
|
Hậu Umbo
|
16
|
14
|
16
|
13
|
Phụ
lục 2.
Ảnh hưởng của độ mặn đến tăng trưởng,
tỉ lệ sống và thời gian biến thái của
ấu trùng hầu Thái Bình Dương từ giai
đoạn chữ D đến hậu kì đỉnh vỏ.
* Tỉ lệ sống
|
CT
độ mặn
|
Số LL
|
Tổng số ÂT thí nghiệm (ÂT)
|
Tổng số ÂT đến giai đoạn hậu kì
đỉnh vỏ (ÂT)
|
TLS
(%)
|
TLS
TB (%)
|
|
20 ‰
|
1
|
1500000
|
1026800
|
68.45
|
69.9
|
|
2
|
1500000
|
1050000
|
70.00
|
||
|
3
|
1500000
|
1068000
|
71.20
|
||
|
25 ‰
|
1
|
1500000
|
1182000
|
78.80
|
76.7
|
|
2
|
1500000
|
1161000
|
77.40
|
||
|
3
|
1500000
|
1109000
|
73.93
|
||
|
30 ‰
|
1
|
1500000
|
895000
|
59.67
|
62.6
|
|
2
|
1500000
|
1016000
|
67.73
|
||
|
3
|
1500000
|
906000
|
60.40
|
* Xử lý số
liệu bằng phần mềm spss
|
Tilesong
|
||||||||
|
|
N
|
Mean
|
Std. Deviation
|
Std. Error
|
95% Confidence Interval for Mean
|
Minimum
|
Maximum
|
|
|
Lower Bound
|
Upper Bound
|
|||||||
|
CT1
|
3
|
69.8833
|
1.37871
|
.79600
|
66.4584
|
73.3082
|
68.45
|
71.20
|
|
CT2
|
3
|
76.7111
|
2.50542
|
1.44650
|
70.4873
|
82.9349
|
73.93
|
78.80
|
|
CT3
|
3
|
62.6000
|
4.45768
|
2.57364
|
51.5265
|
73.6735
|
59.67
|
67.73
|
|
Total
|
9
|
69.7315
|
6.66039
|
2.22013
|
64.6118
|
74.8511
|
59.67
|
78.80
|
|
Multiple Comparisons
|
||||||||
|
Tilesong
LSD
|
||||||||
|
(I) nghiemthuc
|
(J) nghiemthuc
|
Mean Difference (I-J)
|
Std. Error
|
Sig.
|
95% Confidence Interval
|
|||
|
Lower Bound
|
Upper Bound
|
|||||||
|
|
CT1
|
|
CT2
|
-6.82777*
|
2.49661
|
.034
|
-12.9368
|
-.7188
|
|
CT3
|
7.28333*
|
2.49661
|
.027
|
1.1743
|
13.3923
|
|||
|
CT2
|
|
CT1
|
6.82777*
|
2.49661
|
.034
|
.7188
|
12.9368
|
|
|
CT3
|
14.11110*
|
2.49661
|
.001
|
8.0021
|
20.2201
|
|||
|
CT3
|
|
CT1
|
-7.28333*
|
2.49661
|
.027
|
-13.3923
|
-1.1743
|
|
|
CT2
|
-14.11110*
|
2.49661
|
.001
|
-20.2201
|
-8.0021
|
|||
|
*. The mean difference is significant at the
0.05 level.
|
||||||||
|
|
||||||||
* Tăng trưởng về kích
thước.
|
Nghiệm thức
|
Ảnh hưởng của độ mặn đến tăng
trưởng về kích thước (mm)
|
|||||
|
ÂT chữ D Htb
|
Lần lặp 1
|
Lần lặp 2
|
Lần lặp 3
|
TTTB CT
|
TTTB/ ngày
|
|
|
CT1
|
51
|
322
|
332.67
|
332.33
|
329
|
18.54
|
|
CT2
|
51
|
335.33
|
341.33
|
342
|
339.55
|
19.24
|
|
CT3
|
51
|
308.67
|
312.33
|
311.67
|
310.89
|
17.33
|
* Xử lý số liệu bằng phần mềm spss
|
Kichthuoc
|
||||||||
|
|
N
|
Mean
|
Std. Deviation
|
Std. Error
|
95% Confidence Interval for Mean
|
Minimum
|
Maximum
|
|
|
Lower Bound
|
Upper Bound
|
|||||||
|
CT1
|
3
|
18.5367
|
.40427
|
.23340
|
17.5324
|
19.5409
|
18.07
|
18.78
|
|
CT2
|
3
|
19.2400
|
.24331
|
.14048
|
18.6356
|
19.8444
|
18.96
|
19.40
|
|
CT3
|
3
|
17.3267
|
.12858
|
.07424
|
17.0073
|
17.6461
|
17.18
|
17.42
|
|
Total
|
9
|
18.3678
|
.87307
|
.29102
|
17.6967
|
19.0389
|
17.18
|
19.40
|
|
kichthuoc
LSD
|
||||||||
|
(I) nghiemthuc
|
(J) nghiemthuc
|
Mean Difference (I-J)
|
Std. Error
|
Sig.
|
95% Confidence Interval
|
|||
|
Lower Bound
|
Upper Bound
|
|||||||
|
|
CT1
|
|
CT2
|
-.70333*
|
.23054
|
.022
|
-1.2674
|
-.1392
|
|
CT3
|
1.21000*
|
.23054
|
.002
|
.6459
|
1.7741
|
|||
|
CT2
|
|
CT1
|
.70333*
|
.23054
|
.022
|
.1392
|
1.2674
|
|
|
CT3
|
1.91333*
|
.23054
|
.000
|
1.3492
|
2.4774
|
|||
|
CT3
|
|
CT1
|
-1.21000*
|
.23054
|
.002
|
-1.7741
|
-.6459
|
|
|
CT2
|
-1.91333*
|
.23054
|
.000
|
-2.4774
|
-1.3492
|
|||
|
*. The mean difference is significant at the
0.05 level.
|
||||||||
* Thời gian
biến thái.
|
Giai đoạn
|
Thời gian biến thái (ngày)
|
||
|
CT1
|
CT2
|
CT3
|
|
|
Ấu
trùng chữ D (Veliger)
|
1
|
1
|
1
|
|
Tiền Umbo
|
5
|
4
|
4
|
|
Trung Umbo
|
8
|
8
|
9
|
|
Hậu Umbo
|
15
|
14
|
15
|
Phụ lục 3. Một số hình ảnh trong thí
nghiệm


Hình 1. Bố trí thí nghiệm thức ăn Hình 2. Vợt
và túi để lọc ấu trùng
![]() |

Hình 3. Bố trí thí nghiệm độ mặn Hình 4. Bể 1m3 để pha độ mặn

Hình 5. Đo kích thước ấu trùng Hình 6. Buồng đếm ấu trùng
Hình 7. ÂT chữ D Hình
8. ÂT giai đoạn tiền kì đỉnh vỏ
Hình 3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Trao dồi kinh nghiệm hôc hỏi