Sau hơn hai
tháng thực tập để học hỏi kinh nghiệm sản xuất thực tế và củng cố kiến thức lý
thuyết đã được học. Được sự giúp đỡ của Khoa Nuôi Trồng Thủy Sản – Trường Đại Học
Nha Trang, sự hướng dẫn tận tình của thầy: TS Lê Anh Tuấn, toàn thể các anh
(chị) ở Trung tâm giống hải sản Phú Quốc đã giúp em hoàn thành đợt thực tập tốt
nghiệp này.
Trong đợt
thực tập vừa qua đã giúp em tiếp xúc với điều kiện thực tế bổ ích để bổ sung
vào kiến thức lý thuyết đã được học và biết cách điều hành Trại sản xuất giống
tôm. Để có được điều đó em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Lê Anh Tuấn,
các anh phụ trách cùng các công nhân trại, bạn bè và gia đình đã giúp em hoàn
thành báo cáo này.
Sinh viên
Nguyễn Quang Mẫn
MỤC LỤC
Trang
GIẢI
THÍCH THUẬT NGỮ VÀ CHỮ VIẾT TẮT ......................................................... vi
DANH MỤC
BẢNG
Bảng 1.1:
Khả năng thích nghi với một số yếu tố môi trường..................................... 7
Bảng 1.2:
Đặc điểm các giai đoạn phụ ấu trùng Nauplius........................................... 8
Bảng
1.3: Đặc điểm các giai đoạn phụ ấu trùng Zoea.................................................. 9
Bảng
1.4: Đặc điểm giai đoạn Mysis.......................................................................... 10
Bảng 2.1: Độ
chính xác của các thiết bị đo............................................................... 25
Bảng 3.1: Các tiêu chuẩn về nguồn nước sản xuất tôm
giống................................... 30
Bảng 3.2:
Hạng mục thiết bị công trình trại sản xuất giống...................................... 33
Bảng 3.3: Các chỉ số môi trường nước sau khi chuẩn
bị xong.................................. 36
Bảng
3.4: Các yếu tố môi trường trong bể nuôi thành thục....................................... 37
Bảng 3.5:
Kết quả sinh sản qua 4 lần cho đẻ.............................................................. 42
Bảng 3.6: Kết quả ấp nở trứng.................................................................................... 42
Bảng 3.7:
Diễn biến yếu tố độ mặn và nhiệt độ trong bể đẻ và ấp trứng.................. 43
Bảng 3.8:
Diễn biến yếu tố pH và độ kiềm trong bể đẻ và ấp trứng......................... 43
Bảng 3.9:
Điều kiện môi trường và mật độ để ấp nở Artemia................................... 48
Bảng
3.10: Thành phần và hàm lượng dinh dưỡng của một số loại thức ăn.............. 51
Bảng 3.11: Thành phần thức ăn cho các giai đoạn phụ của Zoea ............................ 52
Bảng 3.12: Khẩu phần thức ăn sống các giai đoạn phụ
của Zoea.............................. 53
Bảng
3.13: Thành phần thức ăn cho các giai đoạn phụ của Mysis........................... 54
Bảng
3.14: Chế độ cho ăn ở giai đoạn Mysis............................................................. 54
Bảng
3.15: Thành phần thức ăn cho các giai đoạn phụ của Post larvae................... 55
Bảng 3.16:
Chế độ cho ăn ở giai đoạn Post larvae.................................................... 56
Bảng
3.17 : Điều kiện môi trường trong bể gièo....................................................... 59
Bảng 3.18: Nồng độ dung dịch Treflan cho từng giai đoạn
ấu trùng......................... 68
Trang
GIẢI
THÍCH THUẬT NGỮ VÀ CHỮ VIẾT TẮT
TLN : Tỷ lệ nở
T : Thời gian
biến thái
E : Tổng số
trứng
A : Tổng số ấu
trùng có trong bể
g : gam
kg : kilogam
ml : mi- li- lít
Việt Nam có 3260
km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông rạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ
ven biển cùng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và các hồ chứa thủy
lợi, thủy điện đã tạo cho nước ta một tiềm năng lớn về nuôi trồng thủy sản nước
ngọt, lợ, mặn đặc biệt là nuôi tôm.
Nghề nuôi trồng
thủy sản nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ và được đánh giá là ngành kinh
tế mũi nhọn của đất nước; trong đó nuôi trồng thủy sản nước lợ mặn, đặc biệt là
nuôi tôm sú đã đóng góp trên 50% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của toàn
ngành. Tuy nhiên, trong những năm gần đây do môi trường ao nuôi có chiều hướng
suy thoái, ô nhiễm, dịch bệnh ngày càng nhiều nên nuôi tôm sú không còn mang
lại hiệu quả kinh tế cao. Bởi vì, con tôm sú có thời gian sinh trưởng dài, 4 đến
5 tháng sau khi nuôi mới thu hoạch nên người nuôi tôm thường gặp những rủi ro
và bất lợi nhiều.
Tôm He chân trắng (Penaeus
vannamei) là loài tôm rộng muối, rộng nhiệt, có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả
năng chống chịu tốt hơn tôm sú, thời gian nuôi ngắn có thể tránh được những rủi
ro bất lợi về thời tiết, khí hậu, người nuôi có khả năng thu lợi nhuận dễ hơn
nuôi tôm sú. Đây được xem là đối tượng mới có thể thay thế cho con tôm sú trong
những năm sắp tới.
Tuy nhiên, những năm gần đây, diện
tích nuôi tôm He chân trắng được mở rộng quá nhanh, nhu cầu con tôm giống quá
lớn, hiện tại các cơ sở sản xuất giống có uy tín trong nước chỉ đáp ứng được
một phần nhỏ nhu cầu đó, phần lớn sử dụng con giống bán trôi nổi trên thị trường
chất lượng không đảm bảo, hiệu quả mang lại không cao. Nhằm mục đích có thể cải
thiện được tình hình trên, em chọn đề tài tốt nghiệp của mình là:
“Tìm hiểu quy trình sản xuất giống
tôm He chân trắng (Penaeus vannamei Bone, 1931)” tại trung tâm giống
hải sản Phú Quốc, thuộc công ty BIM.
Nội dung nghiên cứu gồm:
1. Tìm hiểu
cơ sở vật chất của trại giống
2. Tìm hiểu
kỹ thuật cho đẻ và ấp trứng
3. Tìm hiểu
kỹ thuật ương nuôi ấu trùng từ Nauplius đến Postlarvae
4. Một số
bệnh thường gặp và cách phòng trị
Do còn nhiều
hạn chế về thời gian thực tập, tài liệu, kinh nghiệm nên bài báo cáo này không
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn!
Kiên Giang, tháng 8 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Quang Mẫn
Ngành chân khớp: Arthropoda
Lớp
giáp xác: Crustacea
Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ bơi lội: Natantia
Bộ tôm he: Penaeidae
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus vanamei Boone,
1931
Tên tiếng anh: Whiteleg shrimp
Tên Việt Nam: Tôm He chân trắng
Cấu tạo ngoài
của tôm He chân trắng gồm có:
Chủy đầu là
phần kéo dài tiếp với phần bụng, thường có 2 ÷ 4 (hoặc 5 ÷ 6) răng cưa ở phía
bụng, những răng cưa đó dài vừa phải, vượt cuống râu (ở con non) đôi khi dài tới đốt râu thứ hai.
Vỏ giáp có những gai gân và gai
râu rõ, không có gai mắt và gai đuôi (telson), không có rãnh sau mắt, đường gờ
sau chủy khá dài, đôi khi dài tới mép sau cánh của vỏ giáp. Gờ và rãnh chủy
ngắn chỉ kéo tới gai thượng vị, không có gờ trán, gờ vỏ giáp ngắn thường kéo
dài tới 2/3 khoảng cách giửa gai gan và ổ mắt. Rãnh đầu ngực và rãnh gan rõ, không
có rãnh tim gan.
Phần thân có
6 đốt bụng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có, gai đuôi không phân nhánh.
Râu không có
gai phụ và chiều dài ngắn hơn nhiều so với vỏ giáp.
Xúc biện của
hàm dưới thứ nhất thon dài và thường có 3 đến 4 hàng, phần cuối của xúc biện có
hình roi.
Tôm đực khi thành thục có bộ phận
giao vĩ (Petasma), cân đối, nửa mở, không có màng che, không có hiện tượng
phóng tinh, có gân bụng ngắn. Túi chứa tinh hoàn chỉnh, bao gồm ống chứa tinh
dịch và có cấu trúc gắn kết riêng biệt với sự sinh sản cũng như với các chất
kết dính.
Tôm cái có thelycum hở, hình thành lỗ hoặc khe rãnh giúp
tôm giao vĩ (là nơi nhận và lưu giữ các túi tinh trùng).
Nhìn cấu
tạo ngoài tôm chân trắng giống với tôm He Trung Quốc (Penaeus Chinensis) và tôm
bạc (Penaeus merguiensis). Tôm có màu lam, trên thân không có đốm vằn, chân bò
có màu trắng ngà nên có tên gọi là tôm He chân trắng, chân bơi có màu trắng
vàng, các vành chân đuôi có màu đỏ nhạt và xanh. Vỏ tôm mỏng, có thể nhìn thấy
đường ruột rất rõ. Râu tôm có màu đỏ và dài gấp 1,5 chiều dài thân. Tôm cái có thelycum hở. Cá thể lớn nhất có chiều
dài có thể đạt tới 23 cm.
Cơ thể chia
làm hai phần: Đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen)
+ Phần
đầu ngực có 14 đôi phần phụ bao gồm:
-
Một đôi mắt kép có cuống mắt.
-
Hai đôi râu: Anten 1 (A1) và Anten 2 (A2). A1
ngắn, đốt 1 lớn và có hốc mắt, hai nhánh ngắn. A2 có nhánh ngoài
biến thành vẩy râu (Antenal scale),nhánh trong kéo dài. Hai đôi râu này giữ
chức năng khứu giác và thăng bằng.
- Ba đôi hàm: Đôi hàm lớn, đôi hàm nhỏ 1
và đôi hàm nhỏ 2.
- Ba
đôi chân hàm (Maxilliped) có chức năng giữ mồi, ăn mồi và hổ trợ hoạt động bơi
lội của tôm.
- Năm đôi chân bò hay chân ngực (Walking
legs), giúp cho tôm bò trên mặt đáy. Ở tôm cái, giữa gốc chân ngực 4 và 5 có thelycum.
+ Phần
bụng có 7 đốt: 5 đốt đầu, mỗi đốt mang một đôi chân bơi hay còn gọi là chân
bụng (Pleopds hay swimming legs). Mỗi chân bụng có một đốt chung bên trong. Đốt
ngoài chia làm hai nhánh : Nhánh trong và nhánh ngoài, đốt bụng thứ 7 biến
thành telson hợp với đôi chân đuôi phân nhánh tạo thành đuôi giúp tôm chuyển
động và giữ thăng bằng. Ở tôm đực, hai nhánh trong của đôi chân bụng 1 biến
thành petasma và hai nhánh của đôi
chân bụng 2 biến thành đôi phụ bộ đực là bộ phận sinh dục ngoài của con đực.
Tôm He chân trắng
có nguồn gốc từ vùng biển xích đạo thuộc Đông Thái Bình Dương (biển phía Tây Mỹ
La Tinh) và Nam Trung Mỹ. Trên thế giới tôm He chân trắng phân bố nhiều ở vùng
biển Ecuado, tại vùng Esmieraldes quanh năm đều bắt được tôm cái mang trứng. Vì
vậy, tôm He chân trắng được nuôi nhiều ở các nước Nam Mỹ.
Ở Châu Á không
có tôm He chân trắng phân bố tự nhiên. Vào những thập niên 1980 - 1990 của thế
kỷ XX đối tượng này đã được thuần hóa, di giống nuôi thử nghiệm thành công ở
các nước Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia… tại Trung Quốc những năm gần đây, tỉnh
Quảng Đông đã xem tôm chân trắng là đối tượng nuôi chính thay thế cho tôm He
Trung Quốc (P.chinensis).
Tôm chân
trắng có thể sống ở độ sâu 72 m, đáy bùn, nhiệt dộ nước ổn định từ 25 ÷ 32oC,
độ mặn 28 ÷ 34 0/00,
pH từ 7,7 ÷ 8,3. Giai đoạn tôm con sống ở vùng cửa sông, trưởng thành sống ở
biển sâu.
a. Tập tính sống
Trong
vùng biển tự nhiên tôm He chân trắng sống ở đáy cát, độ sâu từ 0 ÷ 72m, tôm
trưởng thành phần lớn sống ở vùng biển gần bờ, tôm nhỏ ưa sống ở khu vực cửa
sông giàu dinh dưỡng. Ngoài tự nhiên tôm
nhỏ thường sống ở vùng cửa sông có độ mặn thấp, nhiệt độ cao, tôm trưởng thành
bơi ra biển giao vĩ và tiến hành sinh sản. Trong tự nhiên tôm mẹ đẻ trứng ở độ
sâu 70 m nước, độ mặn 350/00, nhiệt độ nước từ 26 ÷ 280C.
Ban ngày tôm vùi mình trong bùn, ban đêm mới đi kiếm ăn.
b. Khả
năng thích ứng của tôm He chân trắng với một số yếu tố môi trường
Trong điều kiện tự nhiên tôm He chân
trắng có thể sinh trưởng và phát triển bình thường nếu các yếu tố môi trường
dao động trong khoảng thích hợp sau:
Bảng 1.1: Khả
năng thích nghi của tôm He chân trắng với một số yếu tố môi trường
|
TT
|
Chỉ tiêu
|
Khả năng thích ứng
|
Khoảng thích ứng nhất
|
|
1
|
Nhiệt
độ (0C)
|
18 ÷ 37 (0C)
|
25 ÷ 32 (0C)
|
|
2
|
Độ mặn
(S0/00)
|
0,5 ÷ 45 (0/00)
|
18 ÷ 22 (0/00)
|
|
3
|
pH
|
7,0 ÷ 9,0
|
7,5 ÷ 8,5
|
|
4
|
Oxy
hòa tan
|
4 ÷ 8 (mg/l)
|
≥ 4 (mg/l)
|
|
5
|
Độ
kiềm
|
100 ÷ 250 (mg/l)
|
|
|
6
|
Độ
trong
|
30 ÷ 50 (cm)
|
|
|
7
|
NH4-N
|
|
≥ 0,4 (mg/l)
|
|
8
|
NH3
|
|
< 0,1 (mg/l)
|
|
9
|
H2S
|
|
< 0,002 (mg/l)
|
|
10
|
BOD
|
5 ÷ 30 (mg/l)
|
|
|
11
|
COD
|
< 6 (mg/l)
|
|
|
12
|
Màu
nước
|
Xanh lục, xanh nõn chuối
|
Vỏ đậu, màu mận chín
|
(Nguyễn Trọng
Nho, Tạ Khắc Thường, Lục Minh Diệp, 2003)
a. Các thời kỳ phát triển
Bắt đầu từ khi trứng
được thụ tinh cho đến khi tôm chết bao gồm nhiều thời kỳ như: thời kỳ phôi,
thời kỳ ấu trùng, thời kỳ ấu niên, thời kỳ thiếu niên, thời kỳ sắp trưởng thành
và thời kỳ trưởng thành.
* Thời kỳ phôi: Bắt đầu khi trứng được
thụ tinh đến khi trứng nở, thời gian phát triển phôi phụ thuộc rất lớn vào yếu
tố nhiệt độ nước.
* Thời kỳ ấu trùng
Ấu trùng tôm He chân trắng trải qua nhiều lần lột xác và biến
thái bao gồm các giai đoạn sau:
+ Giai
đoạn Nauplius (N): Ấu trùng N trải qua 6 lần lột xác và có 6 giai đoạn
phụ. Ấu trùng Nauplius có 3 đôi phần phụ và một
diểm mắt. Đôi phần phụ thứ nhất không phân nhánh, là mầm của đôi Anten1.
Hai đôi phần phụ thứ 2, thứ 3 phân hai nhánh, là mầm của đôi Anten2 và
đôi hàm 1. Trên các phần phụ có nhiều lông cứng. Ở giai đoạn (N1)
lông cứng trơn. Từ (N2) trở đi,lông cứng có nhiều lông nhỏ dạng lông
chim. Trên chạc đuôi có các gai đuôi, công thức gai đuôi là đặc điểm quan trọng
để phân biệt các giai đoạn Nauplius. Bắt đầu từ N3, mặt bụng ấu
trùng xuất hiện các mấu lồi là mầm của đôi hàm 2, hàm 3, chân hàm 1, 2, 3 sau
này. Giai đoạn N4, N5, N6 phần sau cơ thể kéo
dài.
Ấu trùng Nauplius bơi lội bằng 3 đôi phần phụ, vận động theo
kiểu zíc zắc, không định hướng và không liên tục.
Bảng 1.2: Đặc điểm phân
biệt các giai đoạn phụ ấu trùng Nauplius
|
Giai đoạn
|
Công thức gai đuôi
|
Đặc điểm lông cứng
|
|
Nauplius 1
|
1 – 1
|
Trơn
|
|
Nauplius 2
|
1 – 1
|
Lông chim
|
|
Nauplius 3
|
2 – 3; 3 -3
|
Lông chim
|
|
Nauplius 4
|
3 – 4; 4 - 4
|
Lông chim
|
|
Nauplius 5
|
4 – 5; 5 - 5
|
Lông chim
|
|
Nauplius 6
|
7 - 7
|
Lông chim
|
(Nguyễn Trọng
Nho, Tạ Khắc Thường, Lục Minh Diệp, 2003)
+ Giai
đoạn Zoea (Z): Có 3 giai đoạn phụ gồm:
-
Zoea 1: Cơ thể kéo dài chia làm hai phần,phần đầu có vỏ giáp,phần sau
gồm 5 đốt ngực và phần bụng chưa phân đốt có chạc đuôi,chưa có chủy đầu,mắt
chưa có cuống.
-
Zoea 2: Chủy đầu xuất hiện,hai mắt kép có cuống mắt tách rời, phần bụng
đã chia thành 4 đốt.
-
Zoea 3: Có chủy đầu,hai mắt kép có cuống. Ở mặt bụng phần đầu ngực xuất
hiện 5 đôi chân ngực. Phần bụng có 7 đốt bao gồm 6 đốt bụng và một chạc đuôi,
đốt bụng 6 kéo dài có mầm chân đuôi.
Bảng 1.3: Đặc điểm các
giai đoạn phụ ấu trùng Zoea
|
Đặc điểm
|
Zoea 1
|
Zoea 2
|
Zoea 3
|
|
1. Chủy đầu
|
Không
|
Có
|
Có
|
|
2. Cuống mắt
|
Không
|
Không
|
Có
|
|
3. Mầm chân đuôi
|
Không
|
Không
|
Có
|
(Nguyễn Trọng
Nho, Tạ Khắc Thường, Lục Minh Diệp, 2003)
Ấu trùng Zoea bơi lội nhờ hai đôi Anten và ba
đôi chân hàm. Chúng bơi liên tục có định hướng, bơi thẳng về phía trước.
+ Giai đoạn Mysis(M): Có 3 giai đoạn phụ là M1, M 2,
M3.
Giai đạn Mysis mầm
chân đuôi phát triển, nhánh ngoài của Anten2 dẹp hình thành
vẩy râu, cơ thể cong gập. Ở giai đoạn này, ấu trùng M bơi lội theo kiểu búng
ngược vận động chủ yếu dựa vào 5 đôi chân bò.
Bảng 1.4 Đặc điểm giai đoạn Mysis
|
Đặc điểm
|
M1
|
M2
|
M3
|
|
Mầm chân bụng
|
Bắt đầu hình thành
|
Có một đốt
|
Có 2 đốt
|
(Nguyễn Trọng
Nho, Tạ Khắc Thường, Lục Minh Diệp, 2003)
Sự khác biệt giữa Z và M là Z ăn thực vật phù du, còn M ăn cả
thực vật phù du lẫn động vật phù du; Z có khuynh hướng bơi gần mặt nước do đặc
tính hướng quang, còn M thì bơi hướng xuống sâu và đuôi đi trước, đầu đi sau. M
cũng ít bị lôi cuốn bởi ánh sáng như các thời kỳ N và Z. Khi bơi ngược đầu M
dùng 5 cặp chân bơi ở dưới bụng tạo ra những dòng nước nhỏ đẩy tảo khuê vào
miệng và đẩy động vật phù du về phía cặp chân đi để tóm lấy dễ dàng hơn.
+ Giai đoạn Postlarvae (PL)
Hậu ấu trùng PL đã có hình dạng ngoài giống như của loài
nhưng sắc tố chưa hoàn thiện, nhánh trong của Anten 2 chưa kéo dài. PL
bơi thẳng có định hướng về phía trước, bơi lội chủ yếu dựa vào 5 đôi chân bụng.
PL bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi.Tuổi của PL tính theo
ngày, đầu giai đoạn PL sống trôi nổi, nhưng từ PL5 trở đi chúng di
chuyển xuống đáy.
* Thời kỳ ấu niên
Do ấu trùng đã có hệ thống mang đã hoàn chỉnh, nên tôm
chuyển sang sống đáy, bắt đầu bò bằng chân bò và bơi bằng chân bơi. Anten 2 và sắc tố thân ngày càng phát
triển, thời kỳ này tương đương với tôm bột hay PL5 ÷ PL20.
* Thời kỳ thiếu niên
Thời kỳ này, tôm bắt đầu ổn định tỷ lệ thân, thelycum và petasma được hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh, hai nhánh của
petasma còn tách biệt. Cuối thời kỳ ấu niên bắt đàu xuất hiện sự sinh trưởng
không đều giữa hai giới, cá thể cái lớn nhanh hơn đực. Giai đoạn này tương
đương với giai đoạn ương giống và nuôi thương phẩm trong sản xuất.
* Thời kỳ sắp trưởng thành
Tôm trưởng thành về mặt sinh dục như cơ quan sinh dục
ngoài đã hoàn thiện, cá thể đực bắt đầu có tinh trùng trong túi tinh, cá thể
cái đã tham gia giao vĩ lần đầu.
*
Thời kỳ trưởng thành
Tôm có khả năng tham gia sinh sản, chúng di cư và sống
ở vùng biển sâu, nơi có độ trong cao và độ mặn ổn định.
b. Vòng đời của tôm He chân trắng
Trong vòng đời của mình, tôm He chân trắng có giai đoạn ấu
niên và thiếu niên sống ở vùng cửa sông, đến thời kỳ sắp trưởng thành và trưởng
thành, khi tôm tham gia sinh sản lần đầu thì sống ở vùng triều có độ sâu từ 7 ÷
20m nước. Khi trưởng thành và có sản phẩm sinh dục đã chín hoàn toàn thì chuyển
ra vùng biển khơi, ở đó có độ sâu khoảng 70m nước và tham gia sinh sản ở đây.
Trứng và ấu trùng Z, M
sống và phát triển tại vùng biển khơi theo dòng nước trôi dạt vào vùng gần bờ.
Khi đến vùng triều thì ấu trùng chuyển sang giai đoạn Postlarvae và tiếp tục
theo thủy triều trôi dạt vào vùng cửa sông, phát triển thành ấu niên và tiếp
tục vòng đời của chúng.
Tôm He chân trắng là loài ăn tạp, có thể ăn nhiều loại thức
ăn có nguồn gốc từ động, thực vật. Trong nuôi tôm thâm canh hay nuôi bán thâm
canh có thể sử dụng các loại thức ăn công nghiệp. Ở giai đoạn tiền ấu trùng và
hậu ấu trùng (N÷P), chúng sử dụng thức ăn tự nhiên của loài chủ yếu là tảo đơn
bào và luân trùng (bao gồm cả thực vật phù du và động vật phù du). Trong sinh
sản nhân tạo người ta thường sử dụng các loại thức ăn công nghiệp, tảo khô, các
chất bổ sung khác… Tôm He chân trắng có nhu cầu về đạm (20 ÷ 35%) thấp hơn so
với tôm sú (38 ÷ 40%), hệ số thức ăn FCR thấp khoảng 0,9 ÷ 1,2 so với tôm sú là
1,5.
a.
Nhu cầu dinh dưỡng của tôm He chân trắng
Cũng giống như các loài tôm He khác, thức ăn của nó cũng cần
các thành phần như: Protein, Lipid, vitamin, muối khoáng,… Thiếu hay không cân
đối đều ảnh hưởng tới sức khỏe và tốc độ
lớn của tôm.
* Protein
Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng trong thức ăn của
tôm. Nhu cầu Protein thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của tôm. Giai đoạn
ấu trùng cần hàm lượng cao hơn so với giai đoạn nuôi thương phẩm…
*
Lipid
Thành phần Lipid có
trong thức ăn khoảng 6 ÷7,5%. Không nên
quá 10% vì sẽ làm giảm tốc độ sinh trưởng và tăng tỷ lệ tử vong.
* Vitamin
Nhu cầu vitamin ở tôm tùy thuộc vào kích
cở, tốc độ sinh trưởng, điều kiện dinh dưỡng, nhu cầu từng loại vitamin thực tế
cho từng loài tôm, cho từng giai đoạn vẫn chưa được biết nhiều . Vì vậy, trong
thức ăn lượng vitamin bổ sung thường nhiều hơn nhu cầu thực tế nhằm bù đắp
lượng mất đi do hòa tan trong nước, do phân hủy trong quá trình sản xuất.
* Chất khoáng
Giống như các động vật thủy sản khác, tôm
co thể hấp thụ và bài tiết chất khoáng trực tiếp từ môi trường nước thông qua
mang và bề mặt cơ thể . Vì vậy, nhu cầu chất khoáng ở tôm phụ thuộc nhiều vào
hàm lượng chất khoáng có trong môi trường tôm đang sống.
b.
Tính ăn của tôm
Trong vòng đời của mình,tôm tùy thuộc vào giai đoạn biến thái
mà sử dụng loại thức ăn khác nhau.
*
Giai đoạn Nauplius
Tôm dinh dưỡng bằng lượng noãn hoàng dự
trữ, chưa sử dụng thức ăn ngoài. Đến cuối N6 hệ tiêu hóa có sự chuyển
động nhu động, chuẩn bị cho giai đoạn sử dụng thức ăn ngoài.
* Giai đoạn Zoea
Ấu trùng thiên về ăn lọc, ăn mồi liên
tục, thức ăn là thực vật nổi chủ yếu là tảo
Silic như:
Skeletonema
costatum, Chaetoceros sp, Cossinodiscus, Nitzschia, Rhizosolenia,…
*
Giai đoạn Mysis
Ấu trùng bắt mồi chủ động, thức ăn chủ
yếu là động vật nổi như luân trùng, ấu trùng N-Copepoda, N-artemia, ấu trùng
động vật thân mềm, … Tuy nhiên, thực tế sản xuất cho thấy ấu trùng Mysis vẫn có
thể ăn tảo Silic.
* Giai đoạn Post larvae
Tôm bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là
động vật nổi như Artemia, Copepoda, ấu trùng giáp xác, ấu trùng động vật thân
mềm,… Cần chú ý giai đoạn này tôm thích ăn mồi sống, nếu thiếu thức ăn thì tôm sẽ ăn thịt lẫn nhau.
* Thời kỳ ấu niên đến trưởng thành
Từ thời kỳ ấu niên, tôm thể hiện tính ăn
của loài (ăn tạp, thiên về động vật). Thức ăn của tôm là các động vật khác như
giáp xác, động vật thân mềm, giun nhiều tơ, cá nhỏ. Trong sản xuất giống nhân
tạo ấu trùng tôm chân trắng còn được cho ăn bởi các loại thức ăn nhân tạo và
thức ăn tự chế biến như: lòng đỏ trứng, sữa đậu nành, thịt tôm, thịt hầu, trùng,…
a. Đặc điểm sinh trưởng và sự lột xác
Tôm He chân trắng sinh trưởng và phát triển mang tính
chất giai đoạn, đặc trưng bởi sự tăng trưởng về kích thước có dạng bậc thang,
thể hiện sự sinh trưởng không liên tục. Quá trình sinh trưởng và phát triển của
tôm trong điều kiện nuôi nhân tạo cũng như ngoài tự nhiên trải qua nhiều lần
lột xác, qua đó kích thước và khối lượng tôm cũng ngày càng tăng lên. Kích
thước cơ thể giữa hai lần lột xác hầu như không tăng hoặc tăng không đáng kể và
sẽ tăng vọt sau mỗi lần lột xác. Trong khi đó, sự tăng trưởng về khối lượng có
tính liên tục hơn.
* Tuổi
thọ của tôm He chân trắng
Tôm He chân trắng có tuổi thọ ngắn, tuổi thọ của tôm đực thấp
hơn tôm cái. Trong điều kiện sinh thái tự nhiên, nhiệt độ nước 30 ÷ 32oC,
độ mặn 20 ÷ 40‰ từ tôm bột đến thu hoạch mất 180 ngày, cở tôm thu hoạch trung
bình 40 g/con, chiều dài từ 4 cm tăng lên tới 14 cm. Tuổi thọ trung bình của tôm
He chân trắng trên 32 tháng.
b. Sự lột xác
* Cơ chế sinh học của quá trình lột xác
Để sinh trưởng, tôm cũng như tất cả các động vật chân
khớp khác tiến hành lột xác. Sự lột xác chỉ là kết quả cuối cùng của một quá
trình phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn, được chuẩn bị từ nhiều ngày hoặc
nhiều tuần trước đó. Quá trình chuẩn bị diễn ra ở tất cả các mô có liên quan
thông qua hoạt động như: Huy động nguồn lipid dự trữ ở gan, tụy, sự phân bào gia
tăng và các ARN thông tin được tạo thành và tiếp theo là quá trình sinh tổng
hợp các protein mới. Trong thời gian này trạng thái của tôm cũng thay đổi.
+ Giai đoạn sau lột xác
Là giai đoạn kế tiếp ngay sau khi
tôm lột xác. Đây là khoảng thời gian từ khi nước được hấp thụ và máu qua biểu
bì, mang, ruột để làm tăng thể thích máu, căng lớp võ mới còn mềm dẻo cho đến
khi lớp võ mới đã cứng lại. Giai đoạn này có thể kéo dài vài ngày đối với tôm
lớn hoặc vài giờ đối với tôm nhỏ.
+ Giai đoan giữa lột xác
Đây là giai đoạn dài nhất theo sự
phân chia này. Suốt giai đoạn này võ cứng lại nhờ sự tích tụ chất khoáng và
protein. Vỏ dày và đầy đủ cả 3 phần.
+ Giai đoạn trước lột xác
Lớp mô sừng ngoài mới hình thành vào
đầu giai đoạn trước lột xác. Cuối giai đoạn trước lột xác hình thành tiếp lớp
giữa mô sừng mới. Lúc này lớp vỏ cũ đã bong ra khỏi lớp biểu bì ở phía dưới làm
cho vỏ tôm có màu trắng đục. Đây là một trong những dấu hiệu để nhận biết sự
lột xác sắp xảy ra.
Ở giai đoạn này năng lượng được điều động từ gan, tụy, một
phần vỏ cũ cũng được hấp thụ lại, hàm lượng hormone lột xác trong máu tăng cao
và sau đó giảm đột ngột ngay trước khi sự lột xác sắp xảy ra.
+ Giai đoạn lột xác
Chỉ kéo dài vài phút, bắt đầu từ khi
lớp vỏ cũ tách ra ở mặt lưng nơi tiếp giáp giữa vỏ đầu ngực và vỏ phần bụng và
kết thúc khi tôm thoát hẳn lớp vỏ cũ.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lột xác
+ Ánh sáng: Cường độ chiếu sáng và
thời gian chiếu sáng đều ảnh hưởng đến quá trình lột xác. Khi hạn chế thời gian
chiếu sáng sẽ ức chế thời gian lột xác của tôm, ngược lại nếu kéo dài thời gian
chiếu sáng hơn bình thường sẽ rút ngắn thời gian lột xác.
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng trực
tiếp và gián tiếp đến quá trình lột xác. Nhiệt độ thấp hơn 14÷18oC,
sự lột xác bị ức chế. Nhiệt độ cao trong khoảng thích hợp, tôm tăng cường hoạt
động trao đổi chất, tích lũy dinh dưỡng, chuẩn bị đầy đủ cho quá trình lộc xác
xảy ra.
+ Độ mặn: Ở độ mặn thấp trong khoảng
thích hợp tôm sẽ tăng cường lột xác, sinh trưởng nhanh hơn.
+ Các yếu tố, điều kiện môi trường
khác: pH, hàm lượng N03-, N02-, NH4+,
độ cứng đều có sự ảnh hưởng đến sự lột xác. Việc bón vôi thường xuyên ở các ao
nuôi ít thay nước sẽ làm tăng độ cứng của nước làm cản trở sự lột xác của tôm.
+ Chu
kỳ lộc xác có liên quan đến chu kỳ thủy triều, thông thường đầu chu kỳ thủy
triều tôm mới lộc xác rộ.
(Nguyễn Trọng
Nho, Tạ Khắc Thường, Lục Minh Diệp, 2003)
Quá trình lột xác ở tôm phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như: điều kiện dinh dưỡng, các yếu tố môi trường sống, sự điều
tiết của các hormone trong cơ thể tôm. Trong quá trình ương nuôi chúng ta tác
động vào quá trình này bằng cách điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày và theo
từng giai đoạn khác nhau, cũng như quản lý các yếu tố môi trường cho phù hợp.
1.1.9.
Đặc điểm sinh sản
a.
Cơ quan sinh sản
* Cơ quan sinh dục đực
Cơ quan sinh dục đực bên trong của Tôm gồm một đôi tinh hoàn
và đôi ống dẫn tinh. Đôi tinh hoàn trong suốt không sắc tố, nằm ở mặt lưng từ
vùng tim đến gan tụy. Đôi túi tinh đổ ra hai lỗ sinh dục ở gốc đôi chân bò 5.
Túi tinh có chứa tinh trùng sẽ có màu xám nhạt hoặc trắng sữa. Khi tôm đực
thành thục, ta có thể thấy rõ đôi túi tinh trắng đục ở gốc đôi chân bò 5. Đây
là căn cứ để tuyển chọn tôm đực khi nuôi tôm bố mẹ.
Cơ quan sinh dục đực bên ngoài bao gồm Petasma và đôi phụ bộ đực. Petasma
do hai nhánh trong của đôi chân bụng 1 biến thành, đôi phụ bộ đực do hai
nhánh trong của đôi chân bò 2 biến thành.
* Cơ quan sinh dục cái
Cơ quan sinh dục cái bên ngoài là Thelycum, có nhiệm vụ nhận và giữ túi tinh từ tôm đực chuyển sang. Thelycum nằm giữa gốc đôi chân ngực 4 và
5.
Cơ quan sinh dục cái bên trong bao gồm một đôi buồng trứng và
ống dẫn trứng, đôi ống dẫn trứng đổ vào 2 lỗ đẻ ở đốt ngồi đôi chân ngực 3.
* Sự
phát triển buồng trứng ở tôm He chân trắng
Sự phát triển buồng trứng được chia làm 5 giai đoạn. Các đặc
điểm chính của từng giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn 1 (Chưa phát triển): Buồng trứng mềm, nhỏ, trong,
không nhìn thấy qua vỏ kitin, giai đoạn này chỉ có ở tôm con.
+ Giai đoạn 2 (Phát triển): Buồng trứng lớn hơn kích thước
ruột, có màu trắng đục, hơi vàng, rải rác có các tế bào sắc tố đen (tế bào
melanin) khắp bề mặt.
+ Giai 3 (Gần chín): Kích thước buồng trứng tăng nhanh, màu
vàng xanh đến xanh nhạt, có thể nhìn thấy rõ qua vỏ kitin.
+ Giai đoạn 4 (Chín): Kích thước buồng trúng đạt cực đại,
căng tròn, sắc nét. Ở đốt bụng thứ nhất, buồng trứng phát triển lớn, chảy xệ
sang hai bên tạo thành cánh tam giác.
+ Giai đoạn 5 (Đẻ rồi): Kích thước buồng trứng vẫn lớn nhưng
buồng trứng mềm và nhăn nheo, các thùy không căng như giai đoạn 4, buồng trứng
có màu xám nhạt. Trong buồng trứng vẫn còn trứng không đẻ.
b.
Giao vĩ ở tôm He chân trắng
Hoạt động giao vĩ xảy
ra chủ yếu vào ban đêm, tôm cái được gắn túi tính trước khi đẻ vài giờ hoặc có thể
được gắn trước đó vài ngày (Lột xác, thành thục, giao vĩ rồi đẻ trứng).
Ban đầu một hoặc nhiều con đực cùng đuổi theo con cái ở phía
sau. Con đực thường dùng chủy và râu đẩy nhẹ dưới đuôi con cái. Khi tôm cái rời
đáy bơi lên phía trên, tôm đực bơi theo và tiến đến phía dưới con cái. Sau đó,
tôm đực lật ngửa thân và ôm tôm cái theo hướng đầu đối đầu đuôi đối đuôi hoặc
tôm xoay 180o và giao vĩ ở tư thế đầu đối đuôi.
c. Đẻ trứng
* Hoạt
động đẻ trứng
Trước khi đẻ tôm cái thường bơi lội gần sát đáy, vòng quanh
bể, thỉnh thoảng tôm bơi lên trên. Khi đẻ tôm bơi hẳn lên trên, nghiêng thân
bơi chậm vòng vòng trên mặt nước và đẻ trứng. Trứng được phóng ra từ 2 lỗ đẻ ở
gốc đôi chân ngực 3 và chảy ngược về phái sau. Ban đầu trứng chảy ra từ từ, sau
đó chảy ra mạnh thành một làn trắng đục hơi xanh.
* Mùa
vụ đẻ trứng vá sức sinh sản
Ở Bắc Ecuado, mùa đẻ rộ từ tháng 4 đến tháng 5. Ở Peru
mùa đẻ rộ từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau. Số lượng trứng đẻ ra tùy theo kích cỡ của tôm mẹ. Nếu tôm có khối lượng 30
÷ 35 g thì đẻ khoảng 100.000 ÷ 250.000 trứng, đường kính trứng khoảng 0,22 mm.
* Sức sinh sản
Tôm He chân trắng có tốc độ sinh trưởng nhanh, thành thục
sớm, tôm cái có khối lượng 30 ÷ 40 gam là có thể tham gia sinh sản. Sức sinh
sản thực tế khoảng 10 ÷15 vạn trứng/tôm mẹ. Sau khi đẻ buồng trứng lại phát dục
tiếp, thời gian giữa 2 lần đẻ liên tiếp cách nhau 2 ÷ 3 ngày (đầu vụ chỉ khoảng
50 giờ), con đẻ nhiều nhất có thể lên đến 10 lần/năm, thường 2 ÷ 3 lần đẻ liên
tiếp thì có 1 lần lột xác.
Sản lượng tôm He chân trắng ngày càng chiếm thị phần rất lớn
trong tổng sản lượng nuôi tôm. Các quốc gia Châu Mỹ như: Ecuado, Mehico, Panama….là
những nước có nghề nuôi tôm He chân trắng từ lâu đời, trong đó Ecuado là nước
đứng đầu về sản lượng.
Trước đây thông tin về các đợt dịch bệnh, đặc biệt là hội
chứng virus Taura gây giảm sút sản lượng nghiêm trọng ở các quốc gia Châu Mỹ,
đã gây tâm lý lo ngại cho các nhà quản lý ở các quốc gia có ý định nhập nội thử
nghiệm và phát triển nghề nuôi tôm He chân trắng. Tuy nhiên những thành công
của các công trình nghiên cứu, tạo đàn tôm sạch bệnh và cải thiện chất lượng di
truyền ở các quốc gia Châu Mỹ đã mở ra hy vọng cho việc duy trì và phát triển
nghề nuôi tôm He chân trắng nói riêng và nghề nuôi tôm biển nói chung ở các
vùng sinh thái trên thế giới.
Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia, Philippin,
Malaysia đã
tiến hành nhập và thuần hóa loài tôm He chân trắng. Đi đầu là Trung Quốc, họ đã
nhập về nuôi ở tỉnh Sơn Đông. Năm 1998 sản xuất được 150 triệu giống thuần
chủng, sạch bệnh. Năng suất nuôi bình quân 2 tấn/ha/vụ và sẵn sàng chuyển giao
công nghệ cho bất cứ quốc gia nào muốn nhập nuôi đối tượng này.
Năm 2003 sản lượng nuôi tôm của Châu Á đạt 1,35 triệu tấn,
tăng 11% so với sản lượng năm 2002 và 15% sản lượng năm 2001. Riêng Trung Quốc
đạt 390.000 tấn, tăng 15% sản lượng năm 2002. Tiếp đến là Thái Lan 280.000 tấn,
giảm 9% sản lượng năm 2000. Sản lượng tôm của Indonexia tăng và đạt 160.000
tấn. Sản lượng Ấn Độ năm 2003 có thể đạt 150.000 tấn. Thực tế trong năm 2003
các nước Châu Á dẫn đầu về sản lượng nuôi tôm thế giới, chiếm khoảng 86% sản
lượng toàn cầu. Riêng tôm He chân trắng chiếm 42% sản lượng, tương đương với
tôm Sú. Trong đó, Trung Quốc là nước dẫn đầu về sản lượng, tiếp đến là Thái
Lan, Indonexia, Ấn Độ,…
Nhìn chung sản lượng nuôi tôm He chân trắng đã không ngừng
tăng kể từ năm 2000. Theo thống kê của tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO),
tổng sản lượng tôm He chân trắng năm 2006 đạt 2,13 triệu tấn, tăng 15 lần so
với năm 2000. Tôm He chân trắng chiếm 31% tổng sản lượng khai thác và nuôi
trồng trên thế giới, theo dự báo sản lượng sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới
do hiện nay có nhiều nước đang đẩy mạnh phát triển đối tượng nuôi mới này.
Từ năm 2002 các nhà Khoa học nghiên cứu Thủy sản Việt Nam đã
bắt đầu đặt vấn đề nghiên cứu quy trình sản xuất giông tôm He chân trắng như:
Viện Hải Dương Học Nha Trang (nguồn tôm bố mẹ do Công ty Việt Linh cung cấp từ
Hawaii), Trung tâm Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III Nha Trang (nguồn tôm bố
mẹ từ Công ty Asia Hawaii Ventures Phú Yên)…
Từ khi đưa vào nuôi, sản lượng tôm He chân trắng không ngừng
tăng. Trong năm 2003 Việt Nam đã sản xuất được 15.000 tấn, năm 2005 Việt Nam
sản xuất được hơn 100.000 tấn tôm He chân trắng, số liệu năm 2006 sản lượng tôm
He chân trắng đạt 150.000 tấn, tính đến hết tháng 6/2008 sản lượng tôm thu
hoạch 24 tỉnh đạt 90.688 tấn, trong đó sản lượng tôm He chân trắng là 12.324
tấn.
Đến hết tháng 6 năm 2008 tổng diện
tích nuôi tôm nước lợ của 24 tỉnh ven biển là 369.094 ha, trong đó diện tích
nuôi tôm He Chân Trắng là 12.411 ha. Vì tôm He chân trắng ít bệnh hơn tôm Sú
rất nhiều (37% so với 21%) trong khi lợi nhuận trên 1 kg tôm hai loại là tương
đương nhau nên người nuôi có xu hướng chuyển từ tôm Sú sang tôm He chân trắng,
trong đó có một phần lớn diện tích nuôi tôm Sú kém hiệu quả. Khánh Hòa là địa phương có tốc độ tăng diện tích nuôi tôm
He Chân Trắng nhanh đến chóng mặt. Năm 2008, diện tích nuôi tôm he chân trắng ở
đây chỉ có 900 ha thì sang năm 2009 đã tăng đến 3.100 ha. Ở thành phố Đà Nẵng,
con tôm He chân trắng cũng đã nhanh chóng chiếm lĩnh hầu hết diện tích nuôi.
Nếu như năm 2008, trên địa bàn Đà Nẵng còn có 120 ha nuôi tôm sú thì sang năm
2009 con tôm sú bị tẩy chay đến gần “trắng”, chỉ còn 17 ha. Trong khi đó diện
tích nuôi tôm He chân trắng của năm 2008 chỉ có 25 ha đã tăng vụt đến 151 ha
trong năm 2009.
Tính đến tháng
6 năm 2008 cả nước có 2.488 trại sản xuất giống tôm đưa vào sản xuất, trong đó
trại sản xuất tôm He chân trắng là 51 trại, sản xuất trên 2,7 tỉ con/năm. Mặc
dù nhiều trại nuôi tôm Sú đã chuyển sang sản xuất tôm He chân trắng nhưng vẫn
chưa đáp đủ nhu cầu. Bên cạnh đó việc quản lý chất lượng con giống chưa tốt,
còn một lượng rất lớn tôm He chân trắng đang tràn qua biên giới Quảng Ninh vào
Việt Nam
bằng nhiều con đường nhưng không được ngăn chặn.
Hiện tại tôm He chân trắng đã được đưa vào nuôi rộng khắp ở
các vùng nuôi tôm trên cả nước và hiệu quả đã được khẳng định rõ. Tuy nhiên với
việc nuôi tràn lan như hiện nay thì nguy cơ ô nhiễm môi trường, lây lan dịch
bệnh gây thiệt hại cho người nuôi là điều khó tránh khỏi. Do đó cần phải tổ
chức quy hoạch lại các vùng nuôi và đầu tư nghiên cứu sản xuất giống tôm sạch
bệnh là yêu cầu cấp thiết.
+ Địa
điểm: Trung tâm giống hải sản Phú Quốc, thuộc
chi nhánh công ty cổ phần thủy sản BIM Kiên Giang, ấp 7, thị trấn An
Thới, Phú Quốc, Kiên Giang.
+ Thời
gian nghiên cứu: Từ ngày 31/05/2010 đến ngày 30/08/2010.
+ Đối
tượng nghiên cứu: Tôm He chân trắng (Penaeus vannamei).
* Phương pháp đo nhiệt
độ (oC)
Dùng
nhiệt kế thủy ngân cho vào bể nước cần xác định nhiệt độ. Sau 5 – 10 phút, quan
sát vạch thủy ngân dâng lên đến đâu thì nhiệt độ của bể được xác định ở mức đó.
* Phương
pháp đo độ mặn (S‰)
Dùng
nước cất để chỉnh khúc xạ kế về vạch số 0. Sau đó tiến hành đo độ mặn của nước.
Dùng nước cần kiểm tra nhỏ một giọt nước lên bề mặt ống kính, đậy tấm gạt xuống
và hướng ống kính về phía nguồn sáng để quan sát. Độ mặn của nước được xác định
tại ranh giới giao thoa giữa khoảng trắng và xanh khi nhìn qua ống kính.
|


* Phương pháp đo pH
(Đo pH bằng phương pháp so màu)
Rửa lọ
bằng nước cần đo pH nhiều lần, lấy chính xác 10ml, nhỏ vào lọ 2 giọt pH test,
lắc đều, so màu nước trong lọ với bảng
màu chuẩn.
* Phương pháp đo độ
kiềm
Rửa lọ
bằng nước cần đo độ kiềm nhiều lần, lấy chính xác 5ml, cho 1 giọt dung dịch 2
vào, lắc đều, nước sẽ chuyển sang màu hồng nhạt, cho tiếp từng giọt dung dịch 1
vào, lắc đều cho đến khi nước mất màu hồng. Đếm số giọt dung dịch 1. Sau đó,
cho tiếp 1 giọt dung dịch 3 vào, lắc đều. Lúc này nước sẽ chuyển sang màu xanh.
Tiếp tục cho từng giọt dung dịch 1 vào, lắc đều cho đến khi nước chuyển sang
màu vàng cam thì dừng lại. Đếm số giọt dung dịch 1. Độ kiềm của nước được tính
bằng tổng số giọt dung dịch 1 đã dùng nhân với 10.
Bảng 2.1: Độ chính xác của các thiết bị đo
|
Chỉ số
|
Đơn vị
|
Thiết bị đo
|
Độ chính xác
|
|
Nhiệt
độ
|
oC
|
Nhiệt
kế
|
± 1
|
|
Độ
mặn
|
‰
|
Khúc
xạ kế
|
± 1
|
|
pH
|
|
Test
pH
|
± 0,5
|
|
Độ
kiềm
|
mgCaCO3/lít
|
Test
kiềm
|
± 10
|
* Phương pháp kiểm tra Chlorine dư
![]() |
Hình 2.3 Test Chlorine
Rửa lọ bằng nước cần kiểm tra nhiều
lần, lấy chính xác 10ml nước cần kiểm tra, cho 2 giọt thuốc thử (test Chlorine)
vào, lắc đều, sau 5 phút nếu thấy xuất hiện màu vàng hoặc vàng cam đến đỏ hồng
thì nước còn dư Chlorine.
* Phương
pháp xác định tỉ lệ trứng thụ tinh (%)
+ Bước 1: Theo dõi tôm mẹ đẻ. Sau khi tôm mẹ đẻ xong 5 – 10
phút, khi thấy trứng phân bố đều trong bể, dùng cốc thủy tinh lấy 3 mẫu đưa vào
ca nhựa (loại 2 lít). Dùng đũa khuấy đều trứng trong ca nhựa và cho trứng vào
một cốc thủy tinh (cốc A).
+ Bước 2: Lấy ngẫu nhiên lần lượt từng trứng trong cốc A và
xem trên kính hiển vi (lúc trứng phân cắt 2 tế bào hoặc 4 tế bào hoặc 8 tế
bào). Quan sát và ghi lại kết quả, ít nhất là 30 trứng. Tính tỷ lệ trứng thụ
tinh.
*
Phương pháp xác định tỉ lệ nở (%)
và thời gian phát triển phôi
+ Bước 1: Sau khi tôm mẹ đẻ xong 20 phút, vớt tôm mẹ ra khỏi
bể đẻ, dùng dụng cụ đảo trứng phân bố đều trong bể, sau đó dùng cốc thủy tinh
lấy ngẫu nhiên 3 cốc đầy đưa vào ca nhựa (loại 2 lít). Ghi chép thời điểm tôm
mẹ đẻ và nhiệt độ bể đẻ.
+ Bước 2: Đảo đều trứng trong ca nhựa và đếm trứng đưa vào
bình tam giác, mỗi bình tam giác 100 trứng. Cách đếm trứng tôm: dùng đũa khuấy
đều trứng trong ca nhựa. Sau đó, cho một ít trứng vào cốc thủy tinh, dùng đèn
soi ngược từ dưới đáy cốc lên, ta sẽ thấy rõ từng trứng tôm và đếm số trứng đó.
Lần lượt như thế đếm đủ 100 trứng cho mỗi bình tam giác. Sau đó, điều chỉnh
lượng nước ấp trong bình tam giác đủ 500ml, nước này được lấy từ bể ấp. Ghi
nhãn cho 3 bình. Đặt 3 bình này ở nơi thoáng mát và có nhiệt độ gần bằng với bể
ấp trứng.
+ Bước 3: Cứ 2 giờ đo nhiệt độ trong bình một lần và đảo
trứng cho đến khi trứng nở, ghi chép nhiệt độ nước trong các bình và bể ấp
trứng.
+ Bước 4: Theo dõi thí nghiệm và ghi thời điểm trứng nở. Sau
13 ÷ 14h, khi trứng nở hoàn toàn, đếm toàn bộ số Nauplius trong các bình bằng
dụng cụ đếm Nauplius. Tính tỷ lệ nở và thời gian phát triển phôi.
* Phương pháp theo dõi phát triển phôi của Tôm He
chân trắng
+ Bước 1: Theo dõi thời điểm tôm mẹ đẻ. Sau khi tôm mẹ đẻ 3 ÷
5 phút, dùng cốc thủy tinh lấy trứng, ghi chép thời điểm tôm mẹ đẻ.
+ Bước 2: Lấy vài trứng từ cốc thủy tinh xem trên kính hển
vi, chọn 1 vài trứng và chụp ảnh hình dạng trứng tại thời điểm đó và ghi thời
gian, sau 10 phút tiếp theo, lấy vài trứng khác và chọn 1 trứng để chụp ảnh
hình dạng và ghi thời gian. Cứ như thế, 30 phút, 45 phút, 60 phút tiếp theo lần
lược hình dạng phôi và ghi thời gian. Chú ý ghi lại nhiệt độ nước trong cốc
đựng trứng tôm.
* Phương pháp theo dõi các giai đoạn phát triển,
sinh trưởng ấu trùng
Căn cứ vào đặc điểm sinh học các giai đoạn
phụ của ấu trùng tiến hành quan sát phân
biệt các giai đoạn theo các bước sau:
+ Bước 1: Xem tài liệu về hình dạng cấu tạo ngoài của
các giai đoạn chính và phụ của ấu trùng Tôm He chân trắng. Giai đoạn Nauplius
chú ý công thức gai đuôi, giai đoạn Zoea chú ý phần đầu và phần đuôi, giai đoạn
Mysis chú ý phần chân bụng.
+ Bước 2: Dùng cốc thủy tinh lấy mẫu ấu trùng trong bể, đưa
cốc lên ngang tầm mắt, quan sát hoạt động bơi lội, hình dạng của ấu trùng và
chụp ảnh.
+ Bước 3: Lấy vài ấu trùng từ trong cốc xem trên kính hiển vi
và so sánh với tài liệu để xác định chính xác giai đoạn ấu trùng. Chụp ảnh ấu
trùng qua kính hiển vi.
* Cách định lượng Nauplius: Mở sục khí mạnh cho Nauplius phân
tán đều trong xô lớn. Dùng pipet lấy 10ml cho vào dụng cụ đếm. Tiến hành đếm 2
lần sau đó lấy giá trị trung bình.
* Tính tổng ấu trùng có trong bể (A)
Trong đó: - A: Tổng số ấu trùng.
-
: Số lượng ấu trùng trong 1lít nước.
- V: Thể tích bể ương.
* Tính tỷ lệ nở (TLN)
Trong đó: TLN: Tỷ lệ nở.
A: Tổng số ấu
trùng có trong bể ương.
E: Tổng số trứng.
* Thời gian biến thái của ấu trùng
(T)
Trong đó: T: Thời gian biến thái của ấu
trùng.
T2: Thời
điểm xuất hiện đặc điểm ấu trùng giai đoạn trước.
T1: Thời
điểm xuất hiện đặc điểm ấu trùng giai đoạn sau.
* Tỷ lệ sống của ấu trùng (TLS)
TLS (%)=
* 100% (2.4)
Trong đó: A1: Tổng số ấu
trùng ban đầu.
A2: Tổng số ấu
trùng qua từng giai đoạn.
* Tỷ lệ tôm mẹ giao vĩ (TLGV)
|
|
|
|
* Công thức tính giá trị trung bình
Trong đó:
: Giá trị trung bình mẫu
n: Số lần kiểm tra mẫu
Xi: Giá trị kiểm tra lần thứ
i
a. Vị trí địa
lý
Trung Tâm Giống Hải Sản Phú Quốc thuộc
ấp 7, thị trấn An Thới, Phú Quốc, Kiên Giang, mặt trước giáp với đường. Toàn
trại gồm hai khu I và II nằm dọc theo bãi biển, mặt trước giáp biển, một bên
giáp với đồi.
Vị trí trại rất thuận lợi cho quá trình
sản xuất giống.
b.Nguồn nước:
+ Nguồn nước ngọt
được lấy từ mạch nước ngầm, bằng giếng khoan với độ sâu 70m, nước ngọt tuy
không có yếu tố quyết định trong sản xuất nhưng có được nguồn nước ngọt tốt sẽ
thuận lợi cho vấn đề vệ sinh trại sau mỗi đợt sản xuất, cho sinh hoạt, cho
thuần hóa giảm độ mặn tôm bột khi cần thiết. Tiêu chuẩn tốt nhất là là nước đạt
tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt thông thường.
+ Nguồn nước
mặn được lấy từ biển, do cách xa khu vực dân cư và không bị ô nhiễm, thỏa mãn
các yêu cầu :
Bảng 3.1: Các
yếu tố môi trường nước biển tại trại giống
|
TT
|
Yếu tố môi trường
|
Khoảng thích ứng
|
|
1
|
Độ mặn
|
28 ÷ 34 0/00
|
|
2
|
Nhiệt độ nước
|
27 ÷ 31,5 0C
|
|
3
|
pH
|
8,0 ÷ 8.5
|
Nhận xét: Do trại giống nằm sát biển, cách xa khu vực dân cư và
nằm ngoài khơi nên nguồn nước dồi dào, các yếu tố môi trường nằm trong giới hạn
thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm.
c. Khí
hậu
Do vị trí đặc
điểm của Đảo Phú Quốc nằm ở vĩ độ thấp lại lọt sâu vào vùng vịnh Thái Lan, xung
quanh biển bao bọc nên thời tiết mát mẻ mang tính nhiệt đới gió mùa. Khí hậu
chia hai mùa rõ rệt, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 âm lịch đến tháng 4 âm lịch
năm sau và mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 âm lịch đến tháng 10 âm lịch năm sau. Độ
ẩm trung bình 85%. Nhiệt độ cao nhất 350C vào tháng 4 và tháng 5,
nhiệt độ trung bình khoảng 27 -280C nên rất thuận lợi cho sản xuất
giống tôm He chân trắng.
(Nguồn:
www. vi.wikipedia.org/.../Phú_Quốc)
Trại giống gồm hai khu riêng biệt I
và II, trong đó khu I nuôi vổ tôm bố mẹ và cho đẻ là chủ yếu, khu II chỉ ương
nuôi ấu trùng. Tổng diện tích hai khu khoảng 5 hecta.
·
Sơ đồ trại:
Chú thích:
1 : Cổng trại giống
2 : Nhà ăn tập thể
3 : Phòng thí nghiệm
4 : Nhà ở của công nhân
5 :
Nhà ương ấu trùng
6: Nhà nuôi vổ tôm bố mẹ
7 : Nhà cho đẻ
8 : Máy thổi khí
9 : Bể chứa và xử lý nước
10: Bể gièo tôm
11: Văn phòng trại giống
12 : Nhà nuôi tảo
13 : Nhà artemia
14 : Máy bơm nước
15 : Bảo vệ
16 : Trạm bơm nước biển
17 : Máy phát điện
18 : Nhà để xe
a.
Hệ thống công trình
Hệ thống công trình sản xuất giống tôm He
chân trắng về cơ bản giống các công trình sản xuất giống các loài tôm He khác, gồm
các hạng mục như:
Bảng3.2: Hạng mục thiết
bị công trình trại sản xuất giống tôm He chân trắng
|
TT
|
Hạng mục
|
Hình dạng bể, cấu trúc
|
Thể tích
|
ĐVT
|
SL
|
|
1
|
Bể
lắng
|
Tròn, có mái che
|
100 m3
|
Bể
|
02
|
|
2
|
Bể
xử lý nước
|
Tròn, có mái che
|
100 m3
|
Bể
|
10
|
|
3
|
Bể
nuôi tôm bố mẹ
|
Tròn, có mái che
|
20 m3
|
Bể
|
08
|
|
4
|
Bể
cho đẻ
|
Tròn, có mái che
|
5 m3
|
Bể
|
40
|
|
5
|
Bể
nuôi tảo
|
Vuông, mái che lấy ánh sáng
|
6 m3
|
Bể
|
26
|
|
6
|
Bể
lọc cát
|
Hình vuông, có mái che
|
10 m3
|
Bể
|
02
|
|
7
|
Bể
ương ấu trùng
|
Tròn và vuông, có mái che
|
5m3, 6m3
|
Bể
|
168
|
|
8
|
Hồ
chứa nước thải
|
Hình chữ nhật, bể ngầm
|
30 m3
|
Bể
|
04
|
|
9
|
Văn
phòng, PTN, nhà kho
|
Xây cấp 4
|
|
|
01
|
b. Trang thiết bị chính
- Máy bơm, ống
dẫn nước, van nước các loại.
- Hệ thống khí:
Máy thổi khí, ống dẫn khí, van và đá bọt các loại.
- Hệ thống điện
hoàn chỉnh, máy phát điện dự phòng.
- Lưới các lọai đủ
kích cỡ mắt lưới từ 10 ÷ 20, 125, 220, 300, 500 microns.
- Dụng cụ đo độ
mặn, pH, kính hiển vi, nhiệt kế, cân, bình oxy, thau, xô, ca, cốc thủy tinh.
- Hóa chất các
loại chuyên dùng.
- Văn phòng,
phòng trực, nhà kho.
Nhận
xét:
- Hệ thống bể có hình
dạng và kích thước phù hợp với sự thành thục, giao vĩ, cho đẻ và ương nuôi ấu
trùng.
- Bể được xây dựng có phần âm dưới đất để đặt lù xả nước. Có
hệ thống ống khí chạy xung quanh để cung cấp khí và căng dây cước ở trên để che
bạt. Do được thiết kế như trên nên bể giữ được nhiệt độ tương đối ổn định và
thao tác sản xuất dễ dàng.
- Trại giống có các trang thiết bị đầy đủ, đáp ứng được nhu
cầu sản xuất thực tế.
- Hàng ngày, sau khi chuẩn bị thức ăn (thái thức ăn) thì phải
dùng vòi nước ngọt vệ sinh sạch sẽ nền trại. Rác được thu gom đúng nơi qui
định.
- Các dụng cụ sau khi sử dụng đều phải rửa lại bằng nước ngọt
và phơi nắng. Các túi lọc và lõi lọc định kỳ ngâm trong acid rồi rửa lại bằng
nước ngọt và đem phơi nắng.
- Các bể sau khi kết thúc đợt ương nuôi tiến hành bơm nước
biển đầy bể ngâm với Formaline 200 ppm. Sau đó vệ sinh bằng xà phòng và rửa
bằng nước ngọt.
Bể lọc của
trại được xây bằng xi măng có kích cở cao 3 m, rộng 3 m. Bên trong được cho một
lớp đá, phủ lên trên là lớp lưới chắn cát. Trên cùng là lớp cát dày khoảng 1m.
Cát được lấy từ bãi biển, được ngâm Javen và rửa sạch bằng nước ngọt.

Bên trong có
một ống nhựa có khoan nhiều lỗ nhỏ được lắp với ống cấp nước để tránh hiện
tượng rửa trôi cát.
Từ
trạm bơm nước biển, nước được bơm trực tiếp vào 2 bể lắng. Tại đây nước được xử
lý chlorine 10 ÷ 20 ppm tùy vào chất lượng nước. Sau khi xử lí 1 ÷ 2 giờ nước được bơm qua bể lọc bằng cát rồi mới bơm qua bể xử lý. Tại đây, nước được sục khí liên tục
24/24 giờ. Tiếp theo, tiến hành kiểm tra dư lượng chlorine, nếu không còn
chlorine thì xử lý là treflan 0,1 ppm và EDTA 10 ppm. Sau đó mới
đưa vào sử dụng.
Ngoài ra, trung tâm còn sử dụng
thiosunfat để xử lý nước cho khâu ương nuôi ấu trùng. Còn khâu nuôi vỗ, cho đẻ
và ấp trứng thì không dùng thiosunfat. Sau khi xử lý và sục khí 1 ÷ 2 ngày,
nước được cấp vào trong các bể đẻ và bể ấu trùng từ trạm bơm. Nước khi cấp vào
bể được cho qua các hệ thống lọc từ bình lọc đến ống lọc rồi đến túi siêu lọc.
Bảng
3.3. Các chỉ số môi trường nước sau khi chuẩn bị xong
|
Độ mặn (‰)
|
Nhiệt độ
(oC)
|
pH
|
Độ kiềm
(mgCaCO3/L)
|
|
28 ÷ 32
|
27 ÷ 33
|
7,8 ÷ 8,5
|
140 ÷ 150
|
Kết quả ở bảng 3.3 cho thấy nguồn nước được xử
lý rất kỹ lưỡng qua nhiều hệ thống lọc từ bể lọc, bình lọc, ống lọc đến túi
siêu lọc nên màu nước rất trong, các hóa chất dùng để xử lý đều được kiểm tra
dư lượng trước khi cấp vào bể. Nếu nguồn nước không đạt yêu cầu (như độ mặn
< 28‰), thì sẽ xả bỏ và bơm lại nước mới. Tuy nhiên, trường hợp này ít xảy
ra. Vào mùa khô, độ mặn chỉ xuống thấp khi có mưa bão nhưng nó chỉ ảnh hưởng
đến độ mặn của các bể xử lý. Còn nước ở biển rất ổn định, thông thường là
30-34‰.
Tôm bố mẹ được nhập về từ hai nguồn chính là Singapore và Hawaii, đã được kiểm tra kiểm dịch kỹ lưỡng
không mang các bệnh nguy hiểm và đạt tiêu chuẩn:
+ Đối với tôm
đực: Tuyển chọn những con có chiều dài 16 ÷ 18cm, khối lượng từ 45 ÷ 50 gam,
khỏe mạnh, có màu sắc sáng bóng, không bị trắng cơ, các phần phụ còn nguyên vẹn
(không bị mòn đuôi, mòn chân, không bị cụt râu), petasma không bị tổn thương.
+ Đối với tôm cái: Tuyển chọn những con có
chiều dài từ 18 ÷ 20cm, khối lượng từ 55 ÷ 60 gam, khỏe mạnh, có màu sắc sáng
bóng, không bị trắng cơ, các phần phụ còn nguyên vẹn, Thelycum không bị tổn thương.
Tôm bố và tôm mẹ được nuôi riêng
trong các bể có thể tích 20 m3
Chăm sóc và quản lý:
Trước khi
nhập tôm bố mẹ về trại một ngày, bể nuôi vổ được vệ sinh bằng xà phòng và cấp
nước đã qua xử lý. Trước khi thả tôm vào bể tiến hành cân bằng nhiệt độ để
tránh làm tôm bị sốc.
* Các yếu tố môi trường trong bể:
Bảng 3.4: Các yếu tố môi trường trong bể nuôi thành thục
|
Nhiệt độ nước (oC)
|
Mực nước
(m)
|
Độ mặn
(‰)
|
pH
|
|
28 ÷ 31
|
0,4 ÷ 0,7
|
30 ÷ 32
|
7,8 ÷ 8,5
|
Nhận xét: Qua bảng 3.4 ta thấy các yếu tố môi trường trong bể nuôi ít có biến động
mạnh do thời điểm sản xuất giống đang mùa hè. Các yếu tố môi trường thích hợp
cho quá trình nuôi thành thục.
*Chế độ cho ăn:
Thức ăn là yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ thành thục, chất lượng trứng cũng như chất lượng ấu
trùng. Vì vậy phải lựa chọn thức ăn có thành phần dinh dưỡng phù hợp để đảm bảo
cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho tôm bố mẹ.
![]() |
Đây là lượng thức ăn sử dụng cho
1000 con tôm bố mẹ trong ngày.
Tổng lượng thức ăn: Trùn : 6,5
kg/ngày
Hầu : 7
kg/ngày
Mực : 5
kg/ngày
Gan bò: 2
kg/ngày
Thức ăn tổng hợp được phối trộn
theo tỷ lệ:
Tảo khô: Canciphat : Vitamin E = 3 :
150 gam (theo hướng dẫn)
* Cách cho ăn: Cho ăn vào nhiều vị trí trong bể và phân tán
đều để tôm bố mẹ có thể bắt mồi dễ dàng.
* Quản lý thức ăn: Các loại thức ăn tươi được bảo quản trong
tủ cấp đông.
* Chế độ siphon thay nước: Siphon 1 lần/ngày vào lúc 7 giờ
sáng, trước lúc cho tôm ăn. Kết hợp siphon với thay nước, thay nước 2 lần một
ngày, mỗi lần 30 ÷ 50 % lượng nước trong bể.
* Vệ sinh phòng bệnh:
- Hàng ngày lau thành
bể bằng nước ngọt và formalin và làm vệ sinh đáy vào buổi sáng.
- Hàng ngày
9h dùng EM 5ppm.
- Từ 7 ÷ 10
ngày dùng formalin 1 lần với liều lượng 25÷ 30 ppm.
- Định kỳ 2 ÷
3 ngày vệ sinh tẩy trùng toàn bộ trại, dụng cụ, bằng chlorin A 250 ppm.
a. Kỹ thuật cắt mắt tôm cái:
Tôm bố mẹ sau
khi nuôi thuần hóa được 15 ngày là có thể cắt mắt cho tôm cái.
* Cơ
sở khoa học của việc cắt mắt tôm
Phức
hệ cơ quan X nằm ở cuống mắt trực tiếp điều khiển tổng hợp Hormone ức chế sự
phát triển của tuyến sinh dục, cắt cuống mắt nhằm loại bỏ bớt phức hệ cơ quan X
từ đó làm giảm tác nhân ức chế sự phát triển tuyến sinh dục. Kết quả quá trình
cắt mắt là thúc đẩy nhanh sự chín muồi tuyến sinh dục, tăng số lượng trứng.
* Thao tác
- Dùng panh y tế hơ trên ngọn lửa đèn cồn
hoặc bếp ga để khử trùng dụng cụ trước khi cắt. Dùng tay khóa tôm theo chiều
cong của tôm sau đó dùng panh cắt mắt tôm. Thao tác thật nhanh, sau khi
cắt sát trùng vết thương bằng
oxytetracyline rồi thả lại tôm vào bể nuôi thành thục.
- Với phương pháp này tôm cái hồi phục
rất nhanh, không gây nhiễm trùng, ít ảnh hưởng đến sức khỏe vì sau khi cắt mắt
tôm mẹ vẫn bắt mồi bình thường, tỷ lệ sống cao
b.
Tuyển chọn tôm cho giao vĩ
* Đối với tôm
cái: Tuyển chọn những con có buồng trứng ở giai đoạn IV. Buồng trứng to không
bị đứt quảng và kéo dài đến tận cuối đuôi. Tôm khỏe mạnh: màu sắc sáng tự
nhiên, không ửng đỏ, mang tôm trắng và sạch, tôm không lật nghiêng, đứng vững
chãi, các đôi chân ngực choãi ra, các đôi phần phụ, đặc biệt là các đôi chân bò
phải còn nguyên vẹn, đốt bụng thứ 3 không bị tổn thương, thelycum không bị thâm
đen, không bị rách.
* Đối với tôm đực: Tuyển chọn tôm đực có hai
túi tinh màu trắng đục, không bị vàng hoặc thâm đen, tôm khỏe mạnh: màu sắc
sáng tự nhiên, không ửng đỏ, mang tôm trắng và sạch, tôm không lật nghiêng,
đứng vững chãi, các đôi chân ngực choãi ra, các đôi phần phụ, đặc biệt là các
đôi chân bò phải còn nguyên vẹn, petasma còn nguyên vẹn và sạch.
Sau khi tuyển
chọn xong, tiến hành thả tôm cái vào bể tôm đực để cho giao vĩ với tỉ lệ thả là
1 : 1. Thông thường tôm được bắt để cho giao vĩ vào khoảng 15 giờ chiều. Sau
khi thả tôm đực và cái vào chung 1 bể thì tắt đèn và giữ yên tĩnh cho tôm giao
vĩ. Đến tối, tiến hành tuyển chọn tôm cho đẻ.
* Tuyển chọn
tôm cho đẻ: Thời gian tiến hành vào khoảng 19 giờ tối
Sau khi chuẩn bị dụng cụ đầy đủ thì
tiến hành bắt tôm cho đẻ, tuyển chọn tôm cái đã giao vĩ (có túi tinh gắn vào
thelycum). Tuy nhiên, cần kiểm tra túi tinh có được gắn chính xác vào thelycum
hay không. Nếu không đúng vị trí, ta gỡ bỏ và thả lại bể cho tôm giao vĩ lần
sau. Khoảng 2 tiếng sau sẽ kiểm tra lại. Nếu có túi tinh, chuyển sang bể đẻ. Cứ
cách 2 tiếng kiểm tra 1 lần (19h, 21h, 23h). Những tôm cái có túi tinh được
chuyển sang bể đẻ.
* Chuẩn bị bể
cho tôm đẻ
Nước chuẩn bị từ trước được cấp vào
bể qua túi siêu lọc. Thể tích bể là 5 m3 nhưng chỉ cấp đủ 4 m3
nước. Dùng Nistatin 1 ppm, EDTA 10 ppm để xử lí, sục khí trong bể đẻ 24/24 giờ
nhưng ở mức độ nhỏ lăn tăn. Bể được phủ bạt đen để giữ yên tĩnh.
* Cho đẻ
Sau khi tuyển chọn tôm cái đạt yêu
cầu thì thả vào bể đẻ với mật độ khoảng 1 ÷ 2 con/m2. Trước khi thả,
cần kiểm tra tôm còn túi tinh hay không. Nếu không thả trở lại bể tôm giao vĩ
lần sau sẽ bắt tiếp. Sau khi thả vào bể, chỉnh sục khí nhỏ lại, đậy bạt và giữ
yên tĩnh.
Trứng được ấp ngay trong bể
đẻ và được sục khí liên tục 24/24 giờ. Trong thời gian ấp, cách 1 giờ phải đảo
trứng 1 lần để tránh hiện tượng trứng bị lắng đáy. Sau khi tôm đẻ khoảng 13 ÷ 14
giờ, trứng bắt đầu nở. Sau khi trứng nở hoàn toàn, tiến hành thu Nauplius.
c. Kỹ thuật thu Nauplius
Để thu nauplius, ta lợi dụng tập tính
hướng quang của ấu trùng bằng cách dùng đèn chiếu sáng trong phạm vi giữa bể,
kết hợp với tắt sục khí. Sau 15-30, phút ấu trùng sẽ tập trung gần nguồn sáng.
Khi đó, ta dùng vợt hớt nhẹ nhàng Nauplius
chuyển sang 1 xô lớn 100 ÷ 120 lít có sục khí. Thu cho đến khi hết
Nauplius tập trung gần nguồn sáng thì dừng lại. Sau đó, định lượng và chuyển
sang bể ương.
Bảng 3.5: Kết quả sinh sản qua 4 lần
cho đẻ
|
Số lần
|
Số lượng tôm cho giao vĩ
(con)
|
Số lượng tôm được giao vĩ (con)
|
Tỷ lệ giao vĩ
(%)
|
Số lượng trứng
(triệu)
|
Số lượng Naupius
(triệu)
|
Tỷ lệ nở
(%)
|
|
1
|
30
|
21
|
70
|
6,2
|
4,5
|
72,5
|
|
2
|
74
|
50
|
68
|
12,6
|
10,4
|
82,5
|
|
3
|
40
|
30
|
75
|
8,5
|
6,2
|
73
|
|
4
|
40
|
28
|
70
|
7,0
|
5,5
|
79
|
|
TB
|
46
|
32
|
70
|
8,875
|
6,67
|
75,2
|
Bảng 3.6: Kết quả ấp nở trứng
|
Mật độ ấp
(trứng/lít)
|
Tỉ lệ nở
(%)
|
Thời gian phát
triển phôi (giờ)
|
Số lượng Nau
trong bể (triệu)
|
|
400
÷ 500
|
75,2
|
13 ÷
14
|
1,0
÷ 2,0
|
Bảng 3.7: Diễn biến yếu tố độ mặn và
nhiệt độ trong bể đẻ và ấp trứng
|
Độ mặn (‰)
|
Nhiệt độ (0C)
|
||
|
Sáng
|
Chiều
|
Sáng
|
Chiều
|
|
29,4
± 0,7
|
29,4
± 0,7
|
30,1 ± 0,99
|
30,5
± 0,9
|
Bảng 3.8. Diễn biến yếu tố pH và độ
kiềm trong bể đẻ và ấp trứng
|
pH
|
Độ kiềm
(mgCaCO3/lít)
|
||
|
Sáng
|
Chiều
|
Sáng
|
Chiều
|
|
8,0 ± 0,37
|
7,94 ± 0,3
|
145,2
± 5,1
|
1
45,8 ± 5
|
Bảng 3.5,
3.6, 3.7, 3.8 cho thấy mật độ ấp tương đối cao, do công tác tuyển chọn tôm cho
đẻ rất kỹ cho nên tỷ lệ nở cao (75,2%). Trong thời gian này, nhiệt độ ít biến
động và giữ ở mức cao (28 ÷ 31oC) nên thời gian phát triển phôi
tương đối nhanh (13 ÷ 14 giờ). Đồng thời, với việc áp dụng phương pháp thu
Nauplius này ít gây tổn thương cho ấu trùng và có thể loại bỏ được những
Nauplius yếu ngay trong bể. Nhưng với phương pháp này, ta sẽ mất nhiều thời
gian hơn.
Bể dùng để
ương ấu trùng được vệ sinh rất kỹ: ngâm chlorine 100ppm trong 2 ngày. Sau đó,
xả bỏ rồi rửa lại bằng xà phòng, dùng nước ngọt vệ sinh lại nhiều lần rồi mới
cấp nước biển từ bể xử lý vào. Các ống khí và đá bọt đều được ngâm qua formol
và rửa lại bằng nước ngọt rồi mới lắp vào bể ương. Sau khi cấp nước vào bể từ
2,5 ÷ 3m3, dùng Oxytetracyline 1ppm để xử lý tiếp. Sau 8 giờ tiến
hành xử lý Vibroteech 5ppm rồi mới thả
Nauplius.
a. Kỹ thuật nuôi tảo
* Kỹ thuật nhân
giống tảo trong phòng thí nghiệm
Tảo được nuôi
ở trại là tảo Skeletonema costatum và Chaetoceros sp. Tảo giống
sau khi mua về được lưu giữ trong tủ lạnh để luôn có nguồn tảo giống chủ động,
lâu dài và việc lưu giữ này rất cần thiết đối với tảo Silic.
+ Chuẩn bị môi trường nuôi tảo
- Chuẩn bị muối dinh
dưỡng:
+
500 ml nước
NaH2P04.H20
5
g
Na2Si03.9H20 15 g
/ 500 ml nước
• Chuẩn bị Khoáng:
MnCl2.4H20 0,5 ml + 500 ml nước
ZnS04.7H20 0,5 ml
C0Cl2.6H20 0,5 ml
EDTA : 5 g / 500 ml nước
FeCl3.6H20
: 1,5 g / 500 ml nước
• Chuẩn bị Vitamin:
B12 0,5 ml + 500 ml nước
Biotin 0,5 ml
+ Chuẩn bị nước
Nước
biển được lấy từ bể xử lý cho vào xô 100 lít rồi hạ độ mặn xuống còn 20‰. Sau đó, lọc qua giấy lọc vào bình 20 lít.
Sau
khi chuẩn bị nước xong cho vào bình thủy tinh 900 ml, nếu là nuôi tảo Skeletonema
costatum (nếu nuôi tảo Chaetoceros sp là 800 ml) + muối dinh dưỡng
và khoáng mỗi loại 1 ml, bao giấy bạc rồi đem khử trùng ở 125 oC
bằng nồi áp suất cao. Chú ý không cho Vitamin vào bình khử trùng. Môi trường
này được chuẩn bị trước một ngày.
+ Nuôi tảo trong bình thủy tinh (1 lít)
Các
bình thủy tinh được khử trùng từ ngày hôm qua lấy ra hơ miệng bình trên ngọn
lửa đèn cồn. Sau đó, cho vào mỗi bình 1ml Vitamin + 100 ml tảo gốc Skeletonema
costatum (đối với tảo Chaetoceros sp là 200 ml), lắp ống sục khí kết
hợp mở đèn 24/24 giờ, điều chỉnh nhiệt độ phòng ở mức 24oC. Duy trì
như vậy sau khoảng 2 ngày thì mật độ tảo sẽ tăng lên, lúc này ta chuyển sang
nuôi trong bình nhựa 10 lít và giữ lại 2 bình tảo tốt để làm tảo giống cho lần
nhân giống tiếp theo.

+
Nuôi tảo trong bình nhựa (10 lít)
Bình nhựa
được chuẩn bị từ trước, cho vào 7 lít nước biển đã lọc (30‰), cho tiếp muối
dinh dưỡng , khoáng, Vitamin mỗi loại 6 ml. Sau đó, cho 1 lít tảo trong bình thủy
tinh vào, lắp ống sục khí kết hợp mở đèn 24/24 giờ, duy trì nhiệt độ phòng ờ 24oC.
Sau khoảng 2 ngày có thể nuôi tăng sinh
khối ngoài trời trong bể composite 3 m3.
+ Nuôi tảo trong bể composite (3 m3)
Chuẩn bị môi
trường nuôi :
+ 20 lít nước
EDTA 500g
+
20 lít nước
Na2Si03.9H20 400g
FeCl3.6H20 320g /20 lít nước
Bể composite được vệ sinh sạch sẽ và
cấp nước biển (30‰) từ bể xử lý vào. Chỉ cấp 1m3 nước, lắp sục khí
và cho dinh dưỡng vào mỗi loại 200 ml + 4 bình tảo bằng nhựa. Vào những ngày
trời mưa bão, thiếu ánh sáng mặt trời, thì mở đèn để cung cấp đủ ánh sáng cho tảo
quang hợp, duy trì như vậy sau khoảng 2 ngày, quan sát thấy tảo phát triển lên
màu vàng nâu (đậm) thì chuyển sang nuôi trong bể xi măng 6m3.
+ Nuôi tảo trong bể xi măng (6m3)
Bể xi măng
được vệ sinh sạch sẽ và cấp nước biển (30‰) từ bể xử lý vào, chỉ cấp đến mức 5m3.
Sau khi chuẩn bị nước xong, ta cấp dinh dưỡng vào mỗi loại 500 ml rồi dùng máy
bơm chìm bơm tảo từ bể composite vào bể xi măng, 1 bể composic cấp cho 1÷ 2 bể
xi măng, tùy thuộc vào sự phát triển của tảo. Nếu thời tiết thuận lợi thì
khoảng 2 ngày có thể cho ấu trùng ăn được. Vào những ngày trời mưa bão, thiếu
ánh sáng mặt trời, tiến hành mở đèn cung cấp ánh sáng để tảo quang hợp, duy trì
như vậy sau khoảng 3 ÷ 4 ngày, màu nước trở nên đậm. Lúc này, có thể làm thức
ăn cho ấu trùng Zoea.

Kỹ thuật nuôi tảo ở trại rất công phu và kết
quả nuôi khá tốt cũng do một phần trong
thời gian này thời tiết ổn định, ít mưa bão nên thời gian chiếu sáng đầy đủ,
giúp tảo phát tiển tốt.
b. Kỹ thuật ấp Artemia
Artemia
không trải qua giai đoạn tẩy vỏ mà cho vào bể ấp trực tiếp trứng bào xác. Bể ấp
được vệ sinh sạch sẽ và cấp nước biển (30‰) từ bể xử lý vào. Trứng bào xác
trước khi cho vào ấp được rửa qua nước biển, mật độ ấp 2g/lít. Trong khi ấp duy
trì sục khí mạnh và mở đèn sáng 24/24 giờ để giúp trứng nở tốt hơn. Sau khi ấp khoảng
24 giờ trứng sẽ nở ra ấu trùng Nauplius. Lúc này ta tiến hành thu ấu trùng
Nauplius cho tôm ăn bằng cách tắt sục khí, đậy nắp bể ấp lại sau 15 ÷ 30 phút
vỏ trứng nổi lên trên, ấu trùng Nauplius chìm xuống đáy do đặc tính hướng quang.
Lúc này ta mở van xả đáy, thu Nauplius và cho tôm ăn.
Bảng 3.9: Điều kiện môi trường và mật độ để ấp nở Artemia
|
Nhiệt độ nước
(oC)
|
Độ mặn (‰)
|
pH
|
Mật độ ấp
(g/L)
|
|
28 ÷ 31
|
28 ÷ 32
|
8,0 ÷ 8,5
|
2
|


Kỹ thuật ấp trứng Artemia ở trại khá đơn giản. Mật độ ấp
tương đối dày, không tiến hành tẩy vỏ trước khi ấp nên có khả năng nhiễm bệnh
cho ấu trùng tôm. Hơn nữa, artemia sau khi ấp xong không được làm giàu nên chất
lượng dinh dưỡng không cao.
a. Kỹ thuật thả Nauplius
- Ấu trùng sau khi được định lượng xong thì chuyển sang bể ương.
- Mật độ thả 350 ÷ 400 (N/lít).
- Tắm cho ấu trùng: Trước khi thả vào bể
tiến hành tắm cho ấu trùng qua formalin 200ppm trong vòng 30 giây.
Mật độ ương
nuôi ấu trùng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ấu trùng. Khi ương với
mật độ dày ấu trùng cạnh tranh nhau về thức ăn, không gian hoạt động, đồng thời
đáy bể dễ bị ô nhiễm. Nhưng nếu thả Nauplius quá thưa ấu trùng sẽ khó bắt được
thức ăn. Vì thế mật độ ương nuôi phù hợp là hết sức quan trọng. Việc tắm cho
Nauplius sẽ giúp loại bỏ những tác nhân gây bệnh từ bên ngoài.
b.
Chế độ chăm sóc và quản lý
* Thức ăn
Có hai loại
chính:
- Sống (Tảo Cheatoceros sp và Artemia):
+ Tảo Cheatoceros
sp: Được nuôi sinh khối để cung cấp cho ấu trùng giai đoạn Zoea (Z1, Z2, Z3) và
Mysis 1.
+ Artemia: Được sử dụng như một loại
thức ăn không thể thiếu vì chúng có hàm lượng dinh dưỡng cao và rất ưa thích
của ấu trùng tôm. Chỉ cho ăn ở giai đoạn Mysis và Post khi ấu trùng đã bất mồi
chủ động.
-
Thức
ăn tổng hợp:

Bảng 3.10: Thành phần và hàm lượng dinh dưỡng của một số loại thức ăn
tổng hợp dùng trong ương nuôi ấu trùng tôm He chân trắng
|
Tên thức ăn
|
Xuất xứ
|
Hàm lượng dinh dưỡng
|
|
Tảo Spirulina
|
Mỹ
|
Protein ≥ 60%
Lipid ≥ 6%
Tro ≤ 10%
|
|
Lansy – ZM
|
Thái lan
|
Protein ≥ 45%
Lipid ≥ 13%
Xơ ≤ 2,5%
Độ ẩm ≤ 8%
|
|
Frippak Fresh
|
Thái lan
|
Protein ≥ 52%
Lipid ≥ 14,5%
Xơ ≤ 3%
Độ ẩm ≤ 10%
|
|
Japonicus
|
Nhật
|
Protein ≥ 53%
Lipid ≥ 9%
Độ ẩm ≤ 10%
|
|
Brine Shrimp
Flakes
|
Mỹ
|
Protein ≥ 40%
Lipid ≥ 9%
Tro ≤ 11%
|
* Chế độ cho ăn
Chế độ dinh dưỡng thích hợp giúp cho
ấu trùng tăng trưởng tốt, sức khỏe ổn định, trong đó thành phần tảo và định mức
ấu trùng Artemia là bắt buộc phải có không nên thay bằng các loại thức
ăn khác. Ngoài ra việc bổ sung các loại men tiêu hóa, vitamin tổng hợp (ZP 25,
ET600, Shrim favour …) là hết sức cần thiết.
+ Giai đoạn Nauplius: Giai đoạn này ấu
trùng dinh dưỡng bằng noãn hoàng vì vậy chưa cần cho ăn thức ăn ngoài.
+ Giai đoạn Zoea:
Việc đón đầu để cung cấp thức ăn cho giai đoạn Zoea 1 rất
quan trọng và yêu cầu mức độ chính xác cao, tránh trường hợp tôm đã chuyển giai
đoạn nhưng trong bể chưa có thức ăn làm cho ấu trùng đói và lắng đáy. Đồng thời
cũng phải tránh việc đưa thức ăn vào quá sớm làm ấu trùng bị dính chân. Khi
Nauplius chuyển được trên 90% sang Zoea 1 là có thể cung cấp thức ăn cho ấu
trùng. Lần cho ăn đầu tiên sử dụng tảo tươi Cheatoceros.
Bảng
3.11: Thành phần thức ăn cho các giai đoạn phụ của Zoea
|
Giai
đoạn
|
Loại
thức ăn
|
|||
|
Tảo
khô
(%)
|
Lansy
ZM (%)
|
Frippak
(%)
|
TNT100
(%)
|
|
|
Z1
|
30
|
40
|
30
|
0
|
|
Z2
|
30
|
40
|
30
|
0
|
|
Z3
|
10
|
20
|
50
|
20
|
Bảng
3.12: Khẩu phần thức ăn sống các giai đoạn phụ của Zoea
|
Giai đoạn
|
Loại thức ăn
|
||
|
Tảo tươi (lít/m3)
|
Thức ăn tổng hợp (g/m3 )
|
Artemia luộc
|
|
|
Z1
|
50
(Chaetoceros)
(2lần/ngày)
|
2
(6
lần/ngày)
|
0
|
|
Z2
|
50
(Chaetoceros)
(3lần/ngày
|
2
(5lần/ngày)
|
0
|
|
Z3
|
50
(Skeletonema)
(3lần/ngày)
|
3
(4
lần/ngày)
|
1 ÷ 2g/ 10 vạn AT
(1 lần/ngày)
|
+ Giai đoạn Mysis:
Khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn Mysis thì
bắt đầu cho ăn Artemia bung dù đã
qua luộc nhằm hạn chế sự vận động của artemia giúp ấu trùng tôm bắt mồi dễ dàng
hơn, cho ăn xen kẽ với thức ăn tổng hợp.
Bảng 3.13: Thành phần thức ăn cho ấu trùng các giai đoạn phụ của Mysis
|
Giai
đoạn
|
Loại
thức ăn
|
|||
|
TNT
200
(%)
|
Lansy
ZM (%)
|
Japonicus 0 (%)
|
TNT
100
(%)
|
|
|
M1
|
30
|
30
|
20
|
20
|
|
M2
|
50
|
30
|
20
|
0
|
|
M3
|
50
|
20
|
30
|
0
|
Bảng 3.14: Chế độ cho
ăn ở giai đoạn Mysis
|
Giai
đoạn
|
Loại thức ăn
|
||
|
Tổng hợp
|
Artemia luộc
|
Tảo
tươi
|
|
|
M1
|
3,5g/m3 (4lần/ngày)
|
1-2g/10 vạn AT
(2 lần/ngày)
|
70lít/m3
(2lần/ngày)
|
|
M2
|
4
g/m3
(6lần/ngày)
|
1-2g/10vạn AT
(2 lần/ngày)
|
0
|
|
M3
|
5
g/m3
(6 lần/ngày)
|
1-2g/10vạn AT
(2
lần/ngày)
|
0
|
+ Giai đoạn Post larvae:
Khi ấu trùng
chuyển sang giai đoạn Post larvae thì bắt đầu cho ăn Nauplius của Artemia sống,
cho ăn xen kẽ với thức ăn tổng hợp. Ở giai đoạn này ấu trùng có khả năng bơi
lội chủ động ngược dòng để bắt mồi.
Bảng 3.15: Thành phần
thức ăn giai đoạn Post larvae (P1 - P4)
|
Giai
đoạn
|
Loại
thức ăn
|
|||
|
TNT200
(%)
|
Japonicus
1 (%)
|
Japonicus 0 (%)
|
TNT
300
(%)
|
|
|
P1
|
20
|
30
|
20
|
30
|
|
P2
|
0
|
50
|
0
|
50
|
|
P3
|
0
|
50
|
0
|
50
|
|
P4
|
0
|
50
|
0
|
50
|
Bảng 3.16: Chế độ cho ăn ở giai đoạn Post larvae
|
Giai đoạn
|
P1
|
P2
|
P3
|
P4
|
|
|
Loại thức ăn
|
Tổng hợp
|
7g/m3 (4 lần/ngày)
|
8g/m3 (4 lần/ngày)
|
8g/m3 (4 lần/ngày)
|
10g/m3 (4 lần/ngày
|
|
Artemia
|
5 ÷ 7 g/10vạn AT
(4
lần/ngày)
|
5 ÷ 7 g/10vạn AT
(4
lần/ngày)
|
5 ÷ 7 g/10vạn AT
(4
lần/ngày)
|
5 ÷ 7 g/10vạn AT
(4
lần/ngày)
|
|
Biện pháp
điều chỉnh lượng thức ăn của ấu trùng: Dựa theo màu nước trong bể, khả năng ăn
và vận động của ấu trùng, mật độ ấu trùng trong bể và thời điểm chuyển giai
đoạn của ấu trùng. Trước mỗi lần cho ăn kiểm tra bể ương nuôi, nếu trong bể còn
dư lượng thức ăn thì giảm lượng thức ăn tổng hợp hoặc giảm lượng Artemia cần
ấp cho lần tiếp theo. Nếu trong bể đã hết thức ăn tức là ấu trùng ăn đủ hoặc
thiếu, nên kết hợp với quan sát đường phân của ấu trùng để tăng hay giảm lượng
thức ăn cho phù hợp.
* Chế độ sục
khí và ánh sáng
Cường độ sục
khí trong bể ương nuôi ấu trùng mạnh dần từ Nauplius → Zoea → Mysis → Post larvae.

Giai đoạn
Nauplius: Cần sục khí lăn tăn, nhẹ đều và hạn chế cường độ chiếu sáng tới mức
thấp nhất.
Giai đoạn
Zoea: Sục khí vừa nhằm tạo oxy đầy đủ, giúp Zoea phân tán đều trong bể và không
bị đứt đuôi phân. Cần che bạt để hạn chế ánh sáng.
Giai đoạn
Mysis: Sục khí mạnh vì ấu trùng Mysis có nhu cầu dưỡng khí cao và có tập tính
ít vận động treo mình trong nước nên dễ bị lắng đáy, đồng thời giúp phân tán
đều thức ăn tạo điều kiện cho ấu trùng ăn tốt.
Giai đoạn
Post larvae: Nhu cầu dưỡng khí tăng và có tập tính ăn thịt lẫn nhau do đó phải
sục khí mạnh và tăng cường độ chiếu sáng.
Trong quá trình nuôi
ấu trùng, giai đoạn Nauplius và Zoea cần phải che bạt vì giai đoạn này ấu trùng
có tính hướng quang mạnh nên dễ bị mất năng lượng và thiếu oxy cục bộ do tập
trung lại một điểm. Đến giai đoạn Mysis và Postlarvae mở bạt do tính hướng
quang giảm.
* Chế độ siphon thay nước
Trong quá trình sống và phát triển, ấu trùng thải phân và lột
xác làm bẩn môi trường nước nuôi. Việc vệ sinh thay nước thường xuyên ngoài tác
dụng giảm thiểu tối đa khả năng ô nhiễm chất lượng nước, tránh nguy cơ bùng nổ
các tác nhân gây bệnh do tích lũy NH3 - N còn kích thích sự phát triển và ổn định quần
thể vi sinh vật có lợi đồng thời hạn chế vi sinh vật có hại.
Khi siphon đáy cần giảm nhẹ sục khí, dùng ống siphon hút loại
bỏ cạn bã, thức ăn thừa, vỏ và xác chết ấu trùng tích tụ ở đáy bể ra ngoài
thau. Khi siphon dùng ống hút có bao lưới 200 microns để hút nước từ thau ra
ngoài sau đó dùng vợt thu ấu trùng còn sống thả lại vào bể nuôi.

Giai đoạn
Zoea: Khi ấu trùng chuyển sang Zoea 2, đây là thời điểm ấu trùng ăn mạnh biểu
hiện là đuôi phân nhiều, lượng phân thải ra nhiều nên cần phải siphon. Quan sát
đáy bể nếu thấy nhiều phân vón chụm lại
ở đáy thì tiến hành siphon.Cuối giai đoạn Zoea 3 tiến hành siphon đáy và thay
nước 30 ÷ 40%, kết hợp dùng lưới treo phân.
Giai đoạn
Mysis: Từ Mysis 2, Mysis 3 và thời điểm chuẩn bị chuyển sang Post larvae khi siphon
đáy có thể kết hợp thay 30 ÷ 40% nước.
Giai đoạn
Post larvae: Không siphon, chỉ thay nước 30 ÷ 40%, 2 ngày/1lần.
* Mục đích: Nhằm giúp tôm nhanh chóng làm quen với môi trường ao nuôi,
hạn chế sự hao hụt trong quá trình vận chuyển.
a. Chuẩn bị bể Gièo:
- Bể sử dụng để gièo có thể tích 100m3,
bể được vệ sinh kỹ bằng xà phòng và nước ngọt
- Trước khi thả tôm 1 ngày tiến hành cấp nước biển
đã qua xử lý vào đến gần đầy bể rồi tiến hành gây màu nước bằng Lansy PL hay
Japonicus 1.
- Mật độ thả 500 ÷700 con/m3.
- Điều kiện môi trường trong bể gièo
Bảng 3.17 : Điều kiện môi trường trong bể gièo
|
Độ mặn (‰)
|
Nhiệt độ (oC)
|
pH
|
Độ kiềm (mgCaCO3/lít)
|
|
28 ÷ 32
|
27 ÷ 33
|
7,5 ÷ 8,5
|
140 ÷ 150
|

b.
Chăm sóc và quản lý
* Thức ăn và cách cho ăn:
-Thức ăn sử dụng là Lansy PL, Japonicus 1, HIPO 7700,
Artemia.
- Cách cho ăn:
+ Ngày thứ nhất: Do tôm mới chuyển trong bể ương ra còn yếu nên cho ăn 8
lần/ngày trong đó artemia 2 lần/ngày với liều lượng 70g/1triệu con. Tổng hợp 6
lần/ngày với liều lượng 70g/1triệu con. Thức ăn tổng hợp gồm Lansy PL và Japonicus 1.
+
Ngày thứ hai: Giống như ngày thứ nhất nhưng tỷ lệ thức ăn tổng hợp 50%Lansy PL và 50%
Japonicus 1.
+ Ngày thứ 3 trở đi cho ăn ngày 6 lần trong
đó 3lần Artemia 70g/1triệu con và 3 lần
thức ăn tổng hợp theo tỷ lệ 50% Lansy PL
: 50% HIPO 7700.
* Chu
kỳ hạ độ mặn:
Tùy theo điều kiện môi trường ở các ao
nuôi ta tiến hành hạ độ mặn cho phù hợp, thông thường theo quy trình sau để hạn
chế tôm bị sốc: Từ ngày thứ 3 trở đi mỗi ngày rút 20cm nước trong bể rồi cấp
lại bằng nước ngọt. Đến ngày thứ 6 độ mặn ở trong bể gièo được giảm như điều
kiện ao nuôi thương phẩm thì xuất tôm vận chuyển đến ao nuôi.
* Xử lý hóa chất:
- Hàng ngày sử dụng EM 5ppm đánh xuống bể vào
lúc 22h.
- Đến tối ngày thứ 3 tiến hành xử lý Iodine 0,8
ppm, sáng ngày hôm sau lấy mẫu mang đi kiểm dịch.
Trước khi đóng tôm, cần định lượng để biết được số lượng và
xác định mật độ vận chuyển tôm. Dựa vào kích thước của tôm và quảng đường vận
chuyển ta lựa chộn mật độ cho phù hợp. Mật độ vận chuyển từ 3.000 đến 6.000
con/túi nilon. Túi nilon có kích thước dài 70 cm, rộng 20 cm, được cấp 2,5 lít
nước. Nước dùng để vận chuyển tôm đã qua xử lý và được hạ độ mặn xuống còn 18 ÷
200/00, nhiệt độ nước giảm xuống còn 18 ÷ 200C.

Ngoài ra, cần cho artemia vào túi nilon khi vận chuyển để hạn
chế sự ăn thịt lẫn nhau và cho than hoạt tính vào để loại bỏ khí độc. Túi được
bơm oxy căng và đóng trong thùng xốp có nước đá lạnh, được quấn băng keo bên
ngoài. Sau khi đóng thùng xong cho lên xe tải vận chuyển đến ao nuôi thương
phẩm.

*
Nhiệt độ: Trong quá trình ương nuôi ấu trùng tôm He chân trắng,nhiệt độ là yếu
tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của đợt ương.


Nhận xét: Qua hình 3.12; 3.13 ta nhận thấy
rằng ở các đợt ương 1, 2, 3 nhiệt độ rất thuận lợi cho ấu trùng phát triển, dao
động trong ngày không lớn. Ở đợt ương thứ 4 do thời tiết mưa nhiều trong những
ngày đầu, làm cho nhiệt độ xuống thấp 270C, dao động trong ngày lớn
nên ảnh hưởng đến ấu trùng, làm ấu trùng bị sốc. Đây là yếu tố rất quan trọng
ảnh hưởng lớn đến kết quả ương nuôi.
·
pH:
Ấu trùng tôm He chân trắng rất nhạy
cảm sự biến động các yếu tố môi trường, pH có vai trò khá quan trọng ảnh hưởng
trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình ương nuôi.

Nhận xét: Trong quá trình ương pH nằm trong khoảng dao
động thích hợp,thuận lợi cho quá trình ương nuôi (7,7 ÷ 8,4). Càng về cuối của
đợt ương pH càng giảm.
* Độ
mặn:

Nhận xét : Hình
3.14 cho ta thấy rằng độ mặn trong quá trình ương hầu như không thay đổi, chỉ
đến 3 ngày trước khi xuất tôm thì hạ xuống tương đương với độ mặn ở ao nuôi
thương phẩm. Ở lần ương 4 độ mặn trong bể ương thấp chỉ 290/00 ,
do thời tiết mưa nhiều nên không thuận lợi cho sự phát triển của ấu trùng. Nên
kết quả ương nuôi không cao.
Nhận xét chung:
Qua các số liệu của các yếu tố môi trường đã được thống kê trên ta thấy các yếu
tố môi trường tương đối ổn định và nằm trong khoảng thích hợp cho ương nuôi ấu
trùng tôm He chân trắng.
+ Nhiệt độ
nước: 27 ÷ 31oC
+ Độ mặn: Độ mặn được giảm dần trong quá trình
ương từ: 32 → 20 ‰.
+
pH: 7,7 ÷ 8,4
Việc duy trì hay điều chỉnh các yếu tố môi trường trong các
bể nuôi cần được theo dõi thường xuyên để có biện pháp xử lý kịp thời.
3.4.7. Kết
quả ương nuôi ấu trùng tôm He chân trắng.
* Mật độ ương nuôi ấu trùng của 4 đợt.

* Tỷ lệ sống của ấu trùng.

* Thời gian biến thái của ấu trùng.

Nhận xét:
- Mật độ ương nuôi ấu trùng là chỉ tiêu quan trọng ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả ương nuôi ấu trùng, cần xác định mật độ phù hợp là
cần thiết. Vì nếu quá dày thì ấu trung cạnh tranh không gian sống và dưỡng khí,
nếu quá thưa hiệu quả không cao. Ở trung tâm mật độ thả là 300 ÷ 400 AT/lít.
Qua 4 đợt ương cho thấy mật độ 325 AT/lít là phù hợp, tỷ lệ sống cao nhất.
- Tỷ lệ sống ấu trùng giữa các
đợt ương không đều nhau. Ở đợt ương thứ 4 do có mưa nhiều, nhiệt độ xuống thấp
nên ấu trùng hao hụt nhiều. Nhìn chung, tỷ lệ sống của ấu trùng là không cao,
tỷ lệ sống của giai đoạn Zoea cao hơn các giai đoạn Mysis và Post larvae. Ấu
trùng thường bị chết nhiều ở giai đoạn chuyển từ Zoea 2 sang Zoea 3, do đó
trong giai đoạn này cần theo dõi điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý.
- Thời gian biến thái của ấu
trùng phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe và nhiệt độ nước trong bể ương. Nếu
tình trạng sức khỏe tốt và nhiệt độ môi trường nước cao trong khoảng thích hợp
thì thời gian chuyển giai đoạn càng ngắn. Ở lần ương thứ 4 do nhiệt độ thấp 270C
kéo dài trong nhiều ngày nên thời gian biến thái dài hơn.
Trong ương nuôi ấu trùng cũng như
trong cho đẻ nhân tạo phòng bệnh là biện pháp quan trọng, mang lại hiệu quả
kinh tế cao, còn chữa bệnh là giải pháp cuối cùng, ít hiệu quả.
Phòng bệnh cho tôm chủ yếu theo
hai cách sau:
- Quản
lý chất lượng nước nuôi tốt, chăm sóc tôm bố mẹ tốt, sản xuất Nauplius khỏe
mạnh, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, không để xảy ra hiện tượng sốc trong quá
trình nuôi, ấu trùng sẽ phát triển nhanh khỏe mạnh lấn át bệnh tật.
-
Phòng bệnh chủ yếu và có hiệu quả là phòng nấm và protozoea bằng hóa
chất, việc phòng bệnh bằng hóa chất và thuốc đối với virus và vi khuẩn còn ít
hiệu quả. Sử dụng dung dịch Treflan để phòng nấm. Quá trình sử dụng Treflan
được thể hiện ỏ bảng 3.18.
Bảng 3.18: Nồng độ dung dịch Treflan cho
từng giai đoạn ấu trùng
|
Giai đoạn
|
Nauplius
|
Zoea
|
Mysis
|
|
Liều lượng
|
0,5 ppm
|
1 ppm
|
1 ppm
|
Treflan sử dụng đã được pha loãng với cách pha như sau : 50ml
treflan đậm đặc pha với 1 lít nước. Chu kỳ sử
dụng là 18 giờ hàng ngày.
Ngoài ra việc phòng
bệnh còn bổ sung một số thuốc có tác dụng tăng cường sức khỏe như: ZP 25, ET
600, Vibroteech, EM, Shrim favour,…
Trong sản xuất giống tôm việc trị bệnh là giải pháp cuối
cùng, ít mang lại hiệu quả. Phải thường xuyên theo dõi và quan sát ấu trùng để
phát hiện dấu hiệu gây bệnh. Khi thấy xuất hiện dấu hiệu bệnh thì phải trị ngay
mới có hiệu quả.
Một số bệnh gặp trong quá trình ương nuôi:
-
Bệnh
nấm :
+ Phòng : Treflan 1 ppm sử dụng vào lúc 18 giờ
hàng ngày.
+ Trị : Nistatin
1 ÷ 3 ppm.

- Bệnh Lột dính ( xù đầu và dính chân): Kết hợp
thay nước 30 ÷ 50%, sau đó xử lý Shrim favour 1 ppm, 21giờ dùng Oxytetrracyline
5ppm, sau 8 giờ tiếp theo dùng EM 5ppm. Lặp lại 2 ngày liên tiếp rồi ngừng, sẽ
có hiệu quả.
- Bệnh phát sáng : Dùng Oxytetracyline 2 ÷ 5
ppm vào ban đêm, xử lý liên tục 2 ngày.
- Hiện tượng bỏ ăn ở Zoea 2:
+ Phòng : Kết hợp Doxyciline với Xiphotaxime 1 ppm
trong khâu xử lý nước.
+ Trị: Khi có hiện
tượng bỏ ăn dùng Doxycycline và xiphotaxime 2 ppm. Sau 8 giờ dùng 5 ppm
Vibroteech.
* Nước biển được lắng và xử lý Chlorine 20 ppm sau đó qua hệ thống lọc thô,
lọc tinh sau đó được đưa vào sản xuất.
*
Kỹ thuật
tuyển chọn tôm bố mẹ cho giao vĩ:
Chọn tôm bố
mẹ khỏe mạnh, màu sác tươi sáng, các phần phụ còn nguyên vẹn, không bị sây xát.
Tôm mẹ có
buồng trứng phát triển tốt ở giai đoạn IV, tôm đực có túi tinh đẹp.
Trọng lượng
tôm mẹ cần đạt trên 55 ÷ 60 g/con, tôm bố trên 45÷ 50 g/con.
*
Kỹ thuật cho
tôm bố mẹ giao vĩ, cho đẻ
Bể giao vĩ
có thể tích 20 m3, tỷ lệ con đực nhiều hơn con cái.
Điều
kiện môi trường bể giao vĩ : + pH : 8,1 ÷ 8,5.
+ Độ
mặn : 28 ÷ 32 o/oo.
+ Nhiệt độ : 27,5 ÷ 31 oC.
+ Mực nước : 0,4-0.7 m.
Tôm giao vĩ
lúc mặt trời lặn và diễn ra trong thời gian rất ngắn 3 ÷ 5 giây.
Sau khi giao
vĩ 2 ÷ 3 giờ tôm đẻ. Lúc tôm đẻ cần tắt sục khí và giữ yên tĩnh.
Nauplius
được thu vào chiều tối ngày hôm sau.
- Chuẩn bị bể ương: Bể ương được cấp 2,5
÷ 3 m3 nước, xử lý hóa chất và được sục khí liên tục trong ít nhất
48 giờ.
- Kỹ thuật nuôi cấy tảo: Nước nuôi tảo được xử lý diệt khuẩn, tạo môi trường dinh dưỡng
sau đó cho tảo gốc vào và nuôi ở hệ thống nuôi tảo ngoài trời.
- Mật độ Nauplius: 300 ÷ 400
nauplius/lít.
- Thức ăn và chế độ cho ăn:
+ Zoea: Cho ăn tảo tươi sống
vào 8 giờ và 17giờ hàng ngày, thức ăn tổng hợp vào các giờ còn lại.
+ Mysis: Cho ăn thức ăn tổng
hợp và Artemia bung dù xen kẽ nhau.
+
Postlarvae: Cho ăn thức ăn tổng hợp và Nauplius của Artemia xen kẽ nhau.
- Chế độ cho ăn vào 8 lần/ngày:
2h→5h→8h→11h→14h→17h→20h→23h.
- Chế độ chăm sóc quản lý:
+ Môi trường
nuôi ấu trùng : Duy trì ở Nhiệt độ 27,5 ÷ 32 oC; Độ mặn: không giảm
dần theo thời gian nuôi ấu trùng, mà chủ yếu giảm vào 3 ngày trước khi xuất
tôm. pH 7,5 ÷ 8,8.
+ Chế độ
siphon thay nước: giai đoạn Z2,
Z3 có thể siphon cho ấu trùng, từ Z3÷ M1, M3 ÷
P1 có thể siphon kết hợp thay 30 ÷ 40% nước biển mới. Khối lượng
nước thay tăng dần theo thời gian nuôi. Từ Postlarvae 4 bắt đầu đưa ra gièo ở
bể lớn 100m3.
-.Bệnh nấm : Nistatin 1÷ 3 ppm.
- Ấu trùng tôm bị lột dính : Kết hợp thay nước
30 ÷ 50%, sau đó xử lý Shrim favour 1ppm, 21h dùng Oxytetrracyline 5ppm, sau 8
giờ tiếp theo dùng EM 5ppm
- Bệnh phát sáng: Dùng Oxytetracyline 2 ÷ 5 ppm vào ban đêm,xử lý liên
tục 2 ngày.
-
Hiện tượng bỏ ăn ở Z 2: Dùng
Xiphotaxime và Doxyciline 1 ÷ 2 ppm.
* Về mặt kỹ thuật:
.- Thức ăn sống như tảo cần phải đảm
bảo tiêu chuẩn vệ sinh và đúng kỹ thuật, tránh lây nhiễm bệnh sang ấu trùng qua
con đường thức ăn.
- Cần cải tiến khâu kỹ thuật ấp Artemia, cần vệ sinh và tẩy vỏ trước khi
ấp nhằm hạn chế mầm bệnh lây truyền cho ấu trùng tôm.
- Cải tiến quy trình sản xuất giống
để nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng.
* Về mặt quản lý:
- Cần đưa đàn tôm bố mẹ mới có chất lượng thay
thế đàn tôm bố mẹ đã có dấu hiệu khả năng sinh sản kém hiệu quả.
- Cần xác định khả
năng sản xuất của trại để xác định được số lượng tôm bố mẹ mua về phục vụ sản
xuất, tránh tình trạng ấu trùng Nauplius nhiều mà không có bể ương do chưa vệ
sinh kỹ lưỡng.
- Cần thiết kế các mái che cho các bể xử lý để đề phòng trời mưa làm
giảm độ mặn, phải xả bỏ và sửa lại đường ống cấp nước, tránh sự hư hỏng làm trì
trệ sản xuất.
- Cần xác định nhu cầu thức ăn của ấu trùng để hạn chế chi phí sản xuất
do việc dùng dư thừa thức ăn.
- Cần dự trù xăng dầu đầy đủ để
chạy máy phát phòng khi mất điện.
- Cần tu bổ lại các vách bao quanh các nhà
ương ấu trùng để tạo sự cách ly với môi trường ngoài.
1. Lại văn Hùng, 2004. Dinh dưỡng và thức ăn trong Nuôi trồng Thủy
sản, NXB Nông nghiệp TP.HCM.
2. Trình Văn Liễn. Tuyển tập quy trình Công nghệ sản xuất giống Thủy sản, NXB Nông
nghiệp.
3. Nguyễn Trọng Nho, Tạ Khắc Thường, Lục
Minh Diệp, 2003. Giáo trình kỹ thuật nuôi
Giáp xác, NXB Nông nghiệp TP.HCM.
4. Vũ Thế Trụ, 2000. Thiết lập và điều hành trại Sản xuất giống
tại Việt Nam, NXB Nông nghiệp Hà Nội.
5. Đào Văn Trí, 2003. Tôm He chân trắng và thử nghiệm nuôi thương
phẩm tại Khánh Hòa và Phú Yên. Tài liệu sưu tầm.
6. Nguyễn Đình Trung, 2004. Quản lý chất lượng nước trong Nuôi trồng
Thủy sản, NXB Nông nghiệp TP.HCM.
7. Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản
(số 4 – 2004) trang 38 - 39.
8. Tạp chí Thủy sản (số 9 – 2004
) trang 23 – 24.
9. Châu Văn Thanh,2008. Giáo
trình thực tập kỹ thuật nuôi trồng hải sản.
Các Website tham khảo:
3.
htpp//.vi.Kiwipedia.org/kiwi/phuquoc


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Trao dồi kinh nghiệm hôc hỏi