Kỹ thuật nuôi cua biển thương phẩm
[08 - Jul - 2007 ::: buiviethung]

Cua biển phân bố nhiều ở
vùng biển nước ta, trong đó là cua xanh có tên khoa học là Scylla serrata
(Forskal) là loài có kích thước tương đối lớn, có giá trị kinh tế cao...
1. Đặc Điểm sinh học của cua biển :
Cua biển phân bố nhiều ở vùng biển nước ta, trong đó là cua
xanh có tên khoa học là Scylla serrata (Forskal) là loài có kích
thước tương đối lớn, có giá trị kinh tế cao.
Tính ăn :
Cua biển là loài ăn tạp nghiên về động vật. Giai đoạn ấu
trùng thức ăn là những loài động vật phù du (luân trùng, moina, artemia…). Giai
đoạn từ cua con đến cua trưởng thành thức ăn là cá, ốc, tép tươi sống.
Sinh trưởng :
Từ ấu trùng đến trưởng thành cua phải qua nhiều lần lột xác
và qua mỗi lần lột xác thì thay đổi về kích thước và hình thái cấu tạo thực thụ
của cua.
Ở giai đoạn ấu trùng và cua bột thời gian giữa các lần lột
xác thường ngắn từ : 2-3 ngày hoặc 3-5 ngày. Ở giai đoạn cua trưỏng thành
thường lột xác vào chu kỳ của thuỷ triều (đầu con nước).
Điều kiện môi trường sống :
pH :Cua sống vùng nước lợ có độ pH trong khoảng 7.5 – 9.5,
thích hợp nhất là 7.5 – 8.2. Tuy nhiên cua có thể chịu đựng được trong nước có
độ pH thấp hơn 6.5
Độ mặn :Cua có khả năng thích ứng cao với sự thay đổi độ
mặn của nước. Cua có thể sống trong vùng nước gần như ngọt cho đến độ mặn
33 %0.
Nhiệt độ nước :Cua biển phân bố rất rộng và ở những vùng vĩ tuyến cao
cua chịu đựng nhiệt độ nước thấp tốt. Ở vùng biển phía nam nước ta cua biển
thích nghi với nhiệt độ nước từ 25 – 290C. Nhiệt độ cao thường ảnh
hưởng xấu đến các hoạt động sinh lý của cua, là một trong nhưng nguyên
nhân gây chết.
Nơi cư trú :Cua thích sống ở nơi có nhiều thực vật thuỷ sinh, có
những vùng bán ngập, có bờ để đào hang, tìm nơi trú ẩn, nhất là thời kỳ lột
xác. Vùng rừng ngập mặn cửa sông ven biển có nhiều cua sinh sống.
2. Kỹ Thuật Nuôi :
Xây dựng ao nuôi :
Ao nuôi cua con thành cua thương phẩm thường có diện tích
từ 500m2 đến 5000m2. Đây là hình thức nuôi thâm canh :
thả giống, cho ăn tích cực, chăm sóc quản lý chặt chẽ.
Địa điểm : Ao nuôi cần được xây dựng ở vùng dễ thay nước
nhờ vào thuỷ triều để giảm chi phí. Ở những vùng có nguồn nước sạch, không bị ô
nhiễm công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, ít sóng gió mạnh và dòng chảy lớn.
Bờ ao được đắp bằng đất (cũng có thể xây gạch nếu có khả năng đầu tư), bờ cần
được nén kỹ để chóng mội, rò rỉ và sạt lỡ. Chân bờ ao rộng từ 3-4m, chiều cao
từ 1.5 đến 2m, cao hơn mực nước triều cao nhất ít nhất là 0.5m. Mỗi ao nuôi nên
có hai cống ở hai đầu đối diện nhau, nếu ao hình chữ nhật thì hai cống sẽ
đặt ở hai bờ thuộc chiều rộng. Cống thoát đặt sát đáy và thông với kênh trong
ao. Phía trong ao, cách bờ 2-3m đào một kênh rộng 3-4m bao quanh ao. Ở giữa ao
đắp một cồn nổi cao hơn mặt nước ao 0.2-0.3m. Trong kênh nên bỏ thêm chà cho
cua ẩn nấp. Làm đăng chắn quanh bờ không cho cua vượt bờ ra ngoài, có thể dùng
lưới mùng loại thưa bao quanh, đăng tre, ….Đăng chắn phải nghiêng về phía trong
ao một góc 600, đăng phải cao từ 0.8-1m.
Tuỳ theo độ phèn của đáy ao mà có cách xử lý cho phù hợp,
nếu pH của đất dưới 6 thì rải vôi bột (CaCO3) cho đáy ao: tháo cạn
nước rải vôi đều trên đáy ao, cả lòng kênh và mép bờ ao. Lượng vôi rải từ 7-10
kg/100m2 ao. Phơi đáy ao 2-3 ngày, sau đó cho nước ra vào 3-4 lần xả
sạch nước phèn.
Độ mặn của nước : cua con trong giai đoạn sinh trưởng sống
ở vùng nước lợ mặn 15- 25%0. Tuy vậy cua chịu sự thay đổi độ mặn rất
lớn, cua sống và phát triển tốt ở độ mặn 5%0 đến 30%o.
Thả giống :
Nguồn cua giống cung cấp cho nghề nuôi cua chủ yếu dựa vào
nguồn giống tự nhiên. Nguồn cua giống thu được ở hàng đáy, ghe cào ở các
cửa sông, tìm bắt ở các bãi sình vùng ngập mặn.
Cua giống có các cỡ :
Loại nhỏ 60-120 con/kg
Loại vừa 25-50 con/kg
Loại lớn 10-15con/kg
Tốt nhất là nên thu mua cua giống từ vùng lân cận và
sau khi đã đánh bắt được chuyển nhanh về nơi thả nuôi. Tính toán số lượng cần
thả đặt mua trong mấy ngày liên tục để thả cua vào ao nuôi trong thời gian
tương đối ngắn.
Trong từng ao nên thả cua cùng cỡ. Cũng có thể chọn cỡ cua
theo mong muốn ngay ở nơi cung cấp cua giống, hoặc tuyển chọn trước lúc thả
nuôi.
Mật độ thả:
Cua nhỏ 3-5 con/m2, loại vừa 2-3 con/m2,
cỡ lớn 0.5-1 con/ m2. Thả giống ở nhiều điểm khác nhau trong ao. Cắt
bỏ dây buộc, buông từ từ cua trên mép bờ để cua tự bờ xuống nước. Đây là cách
để kiểm tra tình trạng sức khoẻ của cua : những con khoẻ mạnh nhanh chóng chạy
xuống nước, những con yếu thường nằm tại chổ hoặc bò chậm. Những con như vậy
thu lại cho vào giai đểtheo dõi, nếu phục hồi thì thả xuống ao. Mỗi ao nên thả
giống trong một hai ngày cho đủ số lượng.
Quản lý, chăm sóc :
Cho ăn : cua nuôi trong ao chủ yếu dựa vào thức ăn cung cấp
hàng ngày, lượng thức ăn tự nhiên trong ao không có nhiều. Thức ăn chủ yếu là
thức ăn tươi sống : cá vụn, còng, ba khía, đầu cá … Lượng thức ăn hàng ngày
khoảng 4 – 6% trọng lượng cua, cua thường hoạt động bắt mồi vào buổi tối. Mỗi
ngày cho cua ăn một lần vào thời gian từ 17 – 19h. Thức ăn được rải đều quanh
ao để cua khỏi tranh nhau. Có thể dùng sàng ăn để kiểm tra sức ăn của cua. Định
kỳ thu mẫu để tính sản lượng cua có trong ao mà điều chỉnh lượng thức ăn cho
vừa đủ. Sau 2-3 giờ cho ăn kiểm tra sàng ăn, nếu cua ăn hết thức ăn trong sàng
thì có thể tăng lượng thức ăn, nếu thức ăn vẫn còn thì giảm lượng thức ăn.
Hàng ngày phải cho cua ăn, không được để cua đói. Những cua
lớn bị đói sẽ giết những cua nhỏ ăn thịt. Vì vậy nuôi cua phải có thức ăn
dự trữ. Những ngày không có thức ăn tươi sống thì cho cua ăn thức khô :
cá vụn, tép, moi phơi khô. Trước lúc rải xuống ao cho cua ăn nên ngâm cá khô
vào nước vài chục phút cho cá mềm ra.
Việc đảm bảo môi trường nước trong sạch rất quan trọng đối
với cua, nhất là nuôi mật độ dày cho ăn thức ăn tươi sống. Ở những nơi có thuỷ
triều lên xuống hằng ngày cần thay nước thường xuyên. Mỗi ngày thay từ 20-30%
lượng nước trong ao. Một tuần thay toàn bộ nước trong ao một lần. Khi thay nước
nên lấy nước ở tầng dưới và tầng giữa tránh lấy nước ở tầng mặt hay bị ô nhiễm.
Nước mới trong sạch kích thích cua hoạt động, ăn nhiều, lột xác tốt.
Thường xuyên kiểm tra tình trạng bờ, cống, rào chắn tránh
thất thoát cua.
Trong thời gian nuôi khoảng 2 tuần một lần bắt cua cân đo
để xem sinh trưởng của cua, xem xét tình trạng của cua : cua nhanh nhẹn, không
bị ký sinh ngoài vỏ, xem trong xoang mang có bị ký sinh hay không. Nếu có hiện
tượng bị nhiễm bệnh thì phải tìm nguyên nhân và biện pháp xử lý.
Thời gian cuối của vụ nuôi trọng lượng cua trong ao tăng
lên, cho ăn thức ăn nhiều nên môi trường rất dễ bị nhiễm bẩn. Cho nên việc thay
nước thường xuyên kiểm tra môi trường rất có ý nghĩa. Trong một số trường hợp,
đáy ao tích tụ nhiều thức ăn thừa, thối rữa, có thể phải tháo cạn, gạn cua và
làm vệ sinh đáy ao : cào bỏ lớp bùn trên mặt và thức ăn thừa thối rữa đi.
Thu hoạch :
Đánh thử cua lên kiểm tra chất lượng. Cua thường phẩm phải
đạt 250g/con trở lên. Cua chắc thịt hoặc đã đầy gạch (cua cái). Khi thấy cua đã
đạt tiêu chuẩn, được giá thì thu hoạch cua để bán.
Những cua chưa đạt kích thước, trọng lượng, cua ốp hoặc
chưa đầy gạch nếu còn khoẻ mạnh thì có thể đem nuôi ở các ao nhỏ, nuôi vỗ tích
cực sau một thời gian đạt tiêu chuẩn thu hoạch bán sẽ được giá hơn.
Nuôi cua thương phẩm từ cua con, thời gian từ 3 – 8 tháng
thường tỉ lệ hao hụt tương đối lớn (40 – 60%) nhưng trọng lượng cua tăng từ 3 –
4 lần (tăng từ 60-80g/con lên 250-350g/con). Tổng trọng lượng của cua thương
phẩm tăng từ 1.5 – 2 lần tổng trọng lượng cua giống.
Một số điểm cần chú ý để nuôi cua thành công :
- Cua giống phải đồng cỡ, thả cùng một lúc;
- Phải có đủ nguồn nước trong sạch để thay thường xuyên;
- Phải có đủ nguồn thức ăn tươi sống;
- Phải có đăng chắn ở trên bờ ao;
- Trong ao phải có các ụ
chà làm nơi trú ẩn cho cua.Nguyễn Thanh Bình
Theo Khuyến ngư Kiên Giang
Nuôi cua lột
Ao nuôi
Có 3 loại ao nuôi:
- Ao nuôi cua nguyên liệu: Diện tích 500-1.000m2, sâu 0,8-1m. Ao có 2 cống cấp và thoát nước. Bờ và xung quanh ao rào chắn phên, đăng lưới để chống thất thoát cua.
- Ao nuôi cua tạo "nu" (cua tái sinh càng chân): Diện tích 200-300m2, sâu 0,6-0,8m, có 2 cống cấp, thoát nước. Ao có hình chữ nhật, chiều dài gấp 4-5 lần chiều rộng để dễ thu hoạch cua. Đáy ao bằng phẳng, hơi dốc về phía cống thoát nước, nền đáy là đất thịt pha sét, lớp bùn dày không quá 15cm.
- Ao nuôi cua lột: Có diện tích 150-200m2, ngoài ra có thể nuôi trong lồng với kích thước (1,5-2)m chiều dài x (1-1,2)m chiều rộng x (0,5-0,7)m chiều cao; làm bằng tre, ngập nước 0,25-0,3m.
Nuôi cua nguyên liệu
Cua nguyên liệu được thu gom ở các ao nuôi cua thịt để phục vụ cho nuôi cua lột, theo tiêu chuẩn: khối lượng 50-100g/con, không bị tổn thương ở mai, có đầy đủ các chân, càng, cua bò di chuyển nhanh nhẹn.
- Cua thường lột quanh năm nhưng tập trung vào từ tháng 3-7, nên phải tuyển chọn cua nguyên liệu đưa vào nuôi từ tháng 2.
- Mật độ nuôi từ 10-12 con/m2.
- Thức ăn nuôi cua là cá tạp, moi, ốc, nhuyễn thể... Khẩu phần thức ăn chiếm 3-4% khối lượng cua nuôi. Ngày cho cua ăn 2 lần vào sáng và chiều tối.
Nuôi cua tạo nu
Vào mùa cua lột, chọn cua nguyên liệu đưa vào ao tạo nu.
- Trước khi thả nuôi cần tiến hành kích thích cua tạo nu như sau: bắt từng con cua, dùng kìm bẻ nhẹ đôi càng, những đôi chân bò, chỉ để lại chân bơi. Chú ý khi bẻ dùng kìm dẹp phân giữa của càng hoặc chân bấm nhẹ, không được kẹp sát mai hay bẻ quá mạnh làm tổn thương đến việc tái sinh càng và chân. Tiếp đó đặt cua vào khay men chứa 5-10cm nước.
- Sau đó đem cua đã bẻ càng và chân thả vào ao nuôi nu. Mật độ nuôi từ 25-50 con/m2, mực nước trong ao nuôi nu 0,6-0,8m. Thay nước cho ao nuôi hàng ngày theo lịch thuỷ triều.
- Cho cua ăn cá tạp hoặc đầu tôm, nhuyễn thể, rau củ băm nhỏ, trộn đều. Khẩu phần thức ăn và số lần cho ăn giống như nuôi cua nguyên liệu.
- Sau khi nuôi được từ 7-10 ngày, kiểm tra cua nếu thấy càng và chân đã tái sinh nhú mầm (mọc nu), chuyển cua sang nuôi ở ao hoặc lồng nuôi để cua lột.
Nuôi cua lột (trong lồng)
- Bắt những con cua đã nhú mầm tái sinh càng, chân thả vào lồng nuôi.
- Mật độ 3-5kg/m3 lồng.
- Cho cua ăn bình thường và thường xuyên theo dõi cua lột xác. Nếu thấy càng, chân tái sinh hoàn chỉnh, mai cua khô giòn có vết nứt vòng quanh mai là cua chuẩn bị lột xác.
- Sau khi cua lột xác 1-2 giờ phải nhanh chóng nhặt cua đem bảo quản.
- Dụng cụ bảo quản cua lột gồm: thùng gỗ kích thước 1,5x1,8x0,4m, trong thùng có lót lớp vải.
- Cua được xếp vào thùng theo từng lớp, giữa các lớp lót một lớp lá làm lớp đệm, được rửa sạch và còn ướt để giữ ẩm.
- Khi xếp cua vào thùng không để ánh sáng chiếu vào cua và gió lùa vào thùng.
Nếu điều kiện bảo quản tốt thì cua có thể để được trong 92 giờ.
Kỹ thuật ương nuôi nâng cấp Tôm Hùm
Giống (Panulirus ornatus)
[04 - Oct - 2007 ::: naungobao]
II/ KỸ THUẬT ƯƠNG NÂNG CẤP TÔM
HÙM LỒNG.
1/ Chọn địa điểm ương nuôi.
- Nơi có độ
mặn cao, tương đối ổn định nằm trong khoảng từ 30 - 35o/oo
ít bị ảnh hưởng của lũ, lụt.
- Có nguồn
nước trong sạch, nước lưu thông tốt, ít bị ảnh hưởng bởi chất thải công nghiệp,
nông nghiệp và đô thị.
- Là nơi kín gió, có độ sâu phù hợp cho việc xây dựng và quản lí lồng nuôi, mức
nước tối thiểu khi triều kiệt là 1,5 m.
- Chất đáy là cát; cát bùn; hoặc chất đáy cát, cát bùn có lẫn đá san hô nhỏ, vỏ
động vật thân mềm.
- Gần
nguồn giống, thức ăn và thuận tiện đường giao thông.
2/ Thiết kế xây dựng lồng nuôi.
2.1/ Kiểu lồng hở ( bè):
Là loại lồng được cố định bỡi các cọc gỗ găm xuống đất.
- Kích thước lồng nuôi
phù hợp là: (3 x 3 x2) m; (3 x 2 x2) m, chiều cao cọc lồng phụ thuộc vào độ sâu
tại nơi đặt lồng, tốt nhất nên đặt tại nơi có độ sâu 1,5 2 m (lúc thủy triều
thấp nhất),
2.2/ Kiểu lồng kín: (lồng di động).
Loại lồng này thích hợp
ở vùng nhiều sóng gió, vùng có sóng gió theo mùa. Kiểu lồng này được áp dụng
phổ biến trong việc ương nâng cấp tôm hùm giống hiện nay (vùng rạn Ðông-Tây
Giang, Mỹ Tân thích hợp cho việc sử dụng loại lồng này).
- Kích thước lồng thường
nhỏ hơn lồng hở để thuận tiện cho việc di chuyển. Kích thước lồng thường được
sử dụng trong ương nuôi là: (0,7x0,8x1,2)m; (1x1x1,2)m; (1,5x1,5x1,2)m; (2
x2x1,2m);
- Ðối với việc ương nuôi
theo qui mô nhỏ, giai đoạn đầu (1 2 tháng đầu) có thể sử dụng lồng có kích
thước nhỏ hơn (từ 0,5 1,0 m2) sau đó san ra lồng nuôi có kích thước
lớn hơn.
* Dù là kiểu lồng kín
hay lồng hở (bè) ta đều phải đặt lồng cách đáy ít nhất là 0,5m.
3/ Thả tôm.
3.1/ Chọn giống.
Ðể chọn được giống tốt ta cần chú ý một số vấn đề
sau:
- Giống nuôi tốt nhất
nên mua tại địa phương nhằm tránh sự khác biệt về điều kiện môi trường, thời
gian vận chuyển xa làm yếu tôm và tránh con giống đã lưu giữ dài ngày.
- Giống được đánh bắt
một cách tự nhiên không qua việc sử dụng thuốc nổ hay bất kỳ một loại hóa chất
gây mê nào khác
- Tôm giống phải
có hình dáng cân đối, đầy đủ các phần phụ, không trầy sướt, thương tổn, có màu
sắt tươi sáng tự nhiên, tôm khoẻ mạnh, không mang mầm bệnh.
- Chọn giống có
kích cỡ đồng đều, hoặc phân cỡ tôm để thả nuôi tránh thả tôm có nhiều kích cỡ
vào một lồng nuôi.
- Nên chọn con giống
đánh bắt theo phương pháp lặn, bằng bẫy.
3.2/ Cách vận chuyển tôm giống đến nơi thả nuôi.
- Có hai phương pháp vận
chuyển: vận chuyển khô và vận chuyển nước.
- Ðối với tôm hùm cỡ nhỏ
để đảm bảo tôm có tỷ lệ sống cao nên sử dụng phương pháp vận chuyển hở bằng
thùng xốp và có sục khí bằng máy thổi ô xy. ( sẽ trình bày kỹ ở phần sau)
3.3/ Thả tôm
Khi tôm vận chuyển đến
lồng nuôi ta tiến hành thuần nhiệt độ cho đến khi gần bằng với nhiệt độ môi
trường nuôi bằng cách cho dần dần nước từ môi trường nuôi vào dụng cụ chứa tôm
sau 30 - 60 phút cho tôm hồi phục sức khỏe hoàn toàn ta mới thả tôm ra.
3.4/ Mật độ nuôi.
Ðối với tôm trắng có thể
thả mật độ 50 - 60con/m2
Sau 60 ngày nên san thưa
tôm ra với mật độ khoảng còn 15 - 20 con/m2
Sau 90 - 100 ngày
nên san thưa với mật độ 12 - 15 con/m2
Và chú ý phân nuôi
theo cỡ tôm.
4/ Thời vụ thả nuôi.
Từ tháng 11 đến tháng 5
năm sau là đã có nguồn tôm trắng giống xuất hiện nhiều vào thời gian này
ta bắt đầu thả giống là được.
Tuy nhiên do tôm hùm
giống rất nhạy cảm với sự biến động môi trường và thích nghi nhiệt độ không
cao, do vậy chúng ta nên ương tôm trong mùa bấc nhằm tránh gây sốc cho tôm để
đảm bảo tỷ lệ sống cao.
Tốt nhất nên ương từ tháng 1 đến tháng 3 hàng
năm.
5/ Chăm sóc và quản lí.
- Thức ăn: Tôm hùm là
loại tạp ăn, thức ăn chủ yếu là cá tạp, cua, ghẹ, cầu gai,... và các loại
nhuyễn thể : Trong nuôi nhân tạo ta nên chọn những thức ăn tươi và chất lượng
cao như cua, ghẹ, tép, ruốc, hàu,.. và băm nhỏ cho phù hợp với khả năng bắt mồi
của tôm.
- Cho ăn chủ yếu là cho
ăn tươi, nên cho tôm hùm ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều tối.
- Lượng cho ăn hằng ngày
từ 15 - 20% trong lượng đàn tôm (khoảng 5 - 7 g/ 100 con tôm mới thả nuôi.
- Quản lí: Hằng ngày lặn
kiểm tra lồng, kiểm tra tình trạng tôm, kiểm tra lượng thức ăn thừa hay thiếu
để từ đó có hướng giải quyết kịp thời.
- Ðịnh kỳ 7 - 10 ngày vệ
sinh lồng nuôi một lần đảm bảo môi trường sạch sẽ thông thoáng.
- Áp dụng biện pháp
phòng bệnh tổng hợp trên cơ sở dựa vào 3 yếu tố là môi trường nuôi, sức khỏe
tôm và quản lý mầm bệnh.
6/ Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị.
Việc nghiên cứu bệnh tôm
hùm chưa được nghiên cứu nhiều. Hiện nay tôm hùm nuôi thường xảy ra một số bệnh
như trắng râu, long đầu, đầu to, mềm vỏ, mang đen, mang tôm bị phồng, đỏ
thân,... và thường xảy ra ở tôm hùm nuôi thương phẩm.
7/ Thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm.
Sau thời gian nuôi từ 5
- 7 tháng tùy vào cỡ giống, mật độ nuôi và mức độ đầu tư tôm có thể đạt khối
lượng từ 80g -150g/con ta tiến hành thu hoạch chuyển tôm giống đến nơi thả
nuôi.
(Theo
Tài liệu tập huấn của Trung tâm Khuyến ngư Ninh Thuận)
|
|
|
Phòng
và trị bệnh cho tôm hùm
[30 - Sep - 2007 ::: naungobao]
Bệnh đỏ thân
Do vi khuẩn Vibrio sp gâu ra. Tôm bệnh có hiện tượng đỏ ở vùng giáp đầu ngực hay vùng bụng, sau đó màu đỏ lan dần ra toàn bộ cơ thể. Mô gan, tụy bị hoại tử, các khớp ở đôi chân rời ra, đôi râu dài dễ bị gãy, mặt bụng tôm tím bầm, tôm yếu dần, bỏ ăn và chết.
Biện pháp phòng bệnh
Chỉ sử dụng thức ăn tươi và phải rửa sạch bằng nước ngọt trước khi cho tôm ăn; tập trung vệ sinh lồng bè nuôi, thu gom thức ăn thừa 2-3 giờ cho ăn và vớt xác tôm chết đưa vào bờ để tiêu hủy. Cần san thưa mật độ nuôi từ 4-5 con/m2 (tôm trên 500g/con); giữ khoảng cách giữa các lồng nuôi từ 5m trở lên để đảm bảo nước lưu thông ở các lồng nuôi. Tăng cường sức khỏe tôm nuôi bằng cách bổ sung vitamin C, vitamin tổng hợp như Stay-C hoặc C plus 5g/kg thức ăn; Vet C Encap 3-5g/kg thức ăn. Treo túi Chlorine quanh lồng nuôi 0,5-1 kg/túi, sử dụng 4-5 lít/lồng,sau 4-5 ngày thay túi mới. Tách riêng những con tôm bệnh và tiến hành các biện pháp điều trị.
Biện pháp trị bệnhĐối với bệnh do vi khuẩn: sử dụng hỗn hợp thuốc Doxyciline 0,3g, Oxytetracyline 0,1g, Steptomycine 0,1g, Stay-C hay C Plus 5g dùng điều trị cho 1kg tôm hùm trong 1 ngày, điều trị liên tục 3-5 ngày.
Cách sử dụng: Hòa tan các loại thuốc vào nước, sau đó ngâm hỗn hợp này với thức ăn (cua, ghẹ, tôm) 15-30 phút trước khi cho tôm hùm ăn.Đối với bệnh do vi bào tử trùngHiện nay chưa có thuốc đặc hiệu để điều trị bệnh này. Trước mắt chỉ áp dụng các biện pháp phòng bệnh là chính, như bảo quản thức ăn tươi và vệ sinh sát trùng thức ăn trước khi cho tôm ăn nhằm hạn chế sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh. Khi có những cá thể tôm mắc bệnh trong hệ thống lồng bè nuôi, nhất thiết phải loại bỏ hay tách chúng khỏi hệ thống nuôi, phải đặt lồng cách đáy ít nhất 0,8m, nhằm tránh lây lan nguồn bệnh .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Trao dồi kinh nghiệm hôc hỏi