-----abdc-----
Tôi xin chân thành cảm ơn
Ban giám hiệu Trường đại học Nha Trang, ban chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc về sự giúp đỡ và chỉ dạy tận tình của các thầy cô trong bộ môn Bệnh
học thủy sản của Khoa Nuôi trồng Thủy sản, đặc biệt là Th.s Trần Vĩ Hích người
đã định hướng và chỉ dạy tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cũng xin cảm ơn các bạn
làm cùng phòng thí nghiệm đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Cuối cùng tôi xin ghi ơn
gia đình bạn bè luôn là nguồn động lực lớn giúp tôi thực hiện tốt đề tài và
hoàn thành đề tài đúng hạn.
Tôi xin chân thành cảm
ơn!
Nha Trang, tháng 08 năm 2010
Sinh
viên
Huỳnh
Thanh Thiện
DANH MỤC CÁC HÌNH
-------o0o-------
Bảng 3.5: Thành phần và tỉ lệ vi khuẩn phân lập từ cá chẽm
mắc bệnh lở loét dựa trên môi trường TCBS
-----abdc-----
Trong những năm gần đây một
số tỉnh miền Bắc: Quảng Ninh và Hải Phòng đặc biệt các tỉnh Nam Trung Bộ: Khánh
Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Định và Vũng Tàu phát triển mạnh nghề nuôi cá
biển với một số đối tượng: cá mú (Epinephelus
spp), cá hồng (Lutjanus sp), cá giò
(Rachycentron canadum) và cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790).
Trong đó cá chẽm là đối
tượng hấp dẫn được nuôi ở nhiều nước Châu Á, là loài có giá trị kinh tế quan
trọng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Châu Á và Thái Bình Dương. Với
những ưu điểm thích nghi rộng muối, sinh trưởng nhanh, thịt thơm ngon, giá trị
kinh tế cao. Năm 1990, tổng sản lượng cá chẽm thương phẩm các nước: Thái Lan,
Đài Loan, Indonesia,
Malaysia, Singapore và HongKong đạt trên 7.800
tấn.
Theo Mai Đình Yên (1979)
và Nguyễn Nhật Thi (1991), ở nước ta, cá chẽm phân bố rộng khắp từ Móng Cái đến
Cà Mau. Với diện tích 445.000 ha mặt nước ven biển và trên 370.000 ha mặt nước
vùng sinh thái ngập mặn, những năm qua, nhu cầu thực phẩm thủy sản của xã hội
ngày càng tăng nhanh, chính vì thế nghề nuôi cá chẽm nước ta đã có những bước
phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên sự nuôi quá ồ ạt không quy hoạch đã làm nghề nuôi
cá chẽm đã gặp phải rất nhiều khó khăn về môi trường và dịch bệnh.
Ở cá chẽm nuôi thương
phẩm hiện nay có thể mắc rất nhiều bệnh, trong đó bệnh lở loét là phổ biến với
tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ chết rải rác đến hàng loạt. Cá có dấu hiệu bỏ ăn hoặc ít
ăn, gầy yếu và cơ thể bắt đầu rụng vẩy, xơ vây, xuất huyết và lở loét. Cá sống
sót thì cơ thể mang dị tật làm giảm giá trị cá nuôi thương phẩm gây thiệt hại
không nhỏ. Chính vì thế để nghề nuôi cá chẽm nước ta phát triển bền vững và lâu
dài ngoài việc tìm hiểu về đặc điểm sinh học, sinh sản, kỹ thuật nuôi và những
tìm hiểu về tình hình dịch bệnh và biện pháp phòng trị là rất cần thiết. Chính
vì thế được sự đồng ý của trường đại học Nha Trang, khoa Nuôi trồng Thủy sản,
bộ môn bệnh học thủy sản và giáo viên hướng dẫn tôi thực hiện chuyên đề: “Tìm hiểu về bệnh lở loét ở cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) nuôi tại
Khánh Hòa”.
Gồm các nội dung sau:
1. Tìm hiểu sự biến đổi về tổ chức ở một số cơ quan của cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) mắc bệnh
lở loét.
2. Phân lập định danh các chủng
Vibrio từ cá chẽm mắc bệnh lở loét.
Vì thời gian thực hiện đề tài có
hạn, kiến thức còn hạn chế và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa
học nên luận văn khó tránh khỏi những sai sót. Kính mong quý thầy cô cùng bạn
đọc góp ý kiến để luận văn được hoàn thiện hơn.
--------abdc--------
Ngành Chordata
Ngành
phụ
Vertebrata
Lớp
Pisces
Lớp phụ Teleostomi
Bộ Perciformes
Họ Centropomidae
Giống Lates
Loài Lates
calcarifer Bloch, 1790
Tên tiếng Việt: cá chẽm, cá vược
Tên tiếng Anh: Giant
perch, White seabass, Silver seaperch, Palmer, Lock_up seabass.

Cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) có thân dẹp, cuốn đuôi khuyết sâu, đầu
nhọn, mình bên lõm và lồi ở phía trước vây lưng. Miệng rộng hàm trên hơi chồm tới
phía sau mắt, răng dạng lông nhung, không có sự hiện diện của răng nanh. Mép
dưới xương nắp mang có gai cứng, nắp mang có gai nhỏ.
Vây lưng có 7-9 gai cứng
và 10-11 tia mềm, vây hậu môn còn có 3 gai cứng và 7-8 tia mềm. Vây đuôi tròn,
vẩy dạng lược rộng (FAO, 1974).
Màu sắc cá có hai giai
đoạn: giai đoạn cá giống có màu ôliu ở phía trên và nhạt ở phần trên và màu bạc
ở phía dưới. [Sinh học và kỹ thuật nuôi cá chẽm, NXB Hà Nội, 1994]
1.2. Tình hình nghiên cứu dịch bệnh
và các bệnh thường gặp ở cá chẽm thế giới (Lates
calcarifer Bloch, 1790)
Trong
khoảng thời gian gần đây bệnh ở cá chẽm đã được các nhà khoa học tập trung
nghiên cứu, và đã đạt được nhiều thành công nhất định trong việc giúp người nuôi
giải quyết và hạn chế tổn thất gây ra do bệnh và dịch bệnh. Theo thống kê sơ
bộ, cá chẽm có thể bị mắc các bệnh nguy hiểm như: Bệnh hoại tử thần kinh do
virus; bệnh xuất huyết, lở loét, mòn cụt do vi khuẩn và bệnh do kí sinh trùng …
Virus là loại tác nhân có kích thước
rất nhỏ, khoảng vài chục đến vài trăm nanomet, chúng xâm nhập vào cơ thể sinh
vật sống, tồn tại và sinh sản bên trong cơ thể ký chủ và gây bệnh bằng cách làm
tổn hại các tổ chức cơ quan của ký chủ. Trên cá chẽm nuôi ở thường xuất hiện
các bệnh sau:
Bệnh hoại tử thần kinh (Viral
nervous necrosis – VNN)
Bệnh lần đầu tiên được mô tả ở cá
chẽm Dicentrarchus iabrax bởi Bllance
& Gallede (1988) và cá chẽm (Lates
calcarifer Bloch, 1790) ở Úc (Glazebook và ctv 1990).
Tác
nhân gây bệnh là Nordavirus, là một loại virus có dạng hình cầu, đường kính từ
26 – 32nm, có acid nucleic là ARN. Virus ký sinh trong tế bào chất của các tế
bào thần kinh ở não và võng mạc mắt có thể ở cả mang và các cơ quan nội tạng.
Cá bị bệnh có dấu hiệu bệnh lý bất thường như: bơi không định hướng và bơi xoắn
ốc do cơ đuôi bị liệt cứng, bỏ ăn, bóng hơi sưng căng phồng dễ vỡ, cá đổi màu chuyển
sang màu tối và chết rải rác đến hàng loạt ở nhiều cỡ cá khác nhau, chết nhiều
ở giai đoạn từ cá bột đến cỡ cá 15cm (Tanaka và ctv, 2004; Curtis và ctv,
2000). Giải phẫu bên trong cá thấy ruột không có thức ăn, chứa đầy dịch màu
xanh hoặc nâu nhạt, lá lách có chấm đỏ. Tiêu bản mô bệnh học và mô não xuất
hiện nhiều không bào, bệnh thường gây thiệt hại rất lớn, theo (Azard & ctv,
2005) cá chẽm 15–21 ngày tuổi nhiễm virus Nordavirus đã gây chết từ 60–90%
trong suốt quá trình nuôi (trích từ Vương Thị Thoa, 2009).
Bệnh
sẽ phát triển mạnh ở nhiệt độ cao, cá bị sốc độ mặn và cá bị sốc do dinh dưỡng
hoặc trong môi trường nuôi có hàm lượng ion kim loại nặng cao. Hiện nay bệnh
chưa có biện pháp chữa trị được nên để giảm thiểu tác hại của bệnh bằng cách: kiểm
tra đàn giống trước khi thả nuôi tại các phòng thí nghiệm, tiệt trùng bể trước
khi sử dụng, tránh gây sốc môi trường hay dinh dưỡng, nên thả cỡ giống lớn,
tách khỏi quần đàn ngay những con bị bệnh.
Vi khuẩn
là các sinh vật có kích thước nhỏ bé, từ 1-10 µm, chúng thường là những tác
nhân cơ hội, chỉ gây bệnh trong những điều kiện nhất định như: môi trường ô
nhiễm, cá bị tổn thương do ký sinh trùng hay do tác động cơ học làm sức khoẻ cá
suy giảm ... Việc nghiên cứu và chẩn đoán bệnh vi khuẩn gây ra ở động vật thủy
sản thường gặp phải nhiều khó khăn và dễ bị nhiễu do sự mặt đồng thời của nhiều
tác nhân vi khuẩn khác nhau trên cùng một mẫu bệnh phẩm. Do vậy, việc nghiên
cứu bệnh do vi khuẩn gặp nhiều khó khăn: đòi hỏi nhiều thời gian, sự đầu tư và
độ chính xác cao.
Các bệnh
do vi khuẩn thường gặp ở các chẽm như: Vibriosis, Streptococcosis, Aeromonosis,
Columnaris …
Bệnh Vibriosis
Tác
nhân gây ra bệnh là các loài thuộc giống Vibrio,
gồm các vi khuẩn gram(-), dạng trực
khuẩn hơi cong, với một số đặc điểm sinh hóa như oxidase, caltalase dương tính,
có di động, khử nitrate ... Vibrio thường gây ra bệnh xuất huyết lở loét, nhiễm
trùng máu với một số đặc điểm điển hình như: Vây sung huyết, xuất huyết điểm bề
mặt trên cơ thể, xuất huyết lở loét ở da và mô cơ, vùng quanh hậu môn thường
sưng tấy và đỏ. Ruột đặc biệt là trực tràng có thể bị sưng to và chứa đầy dịch
nhầy. Sự xung huyết và xuất huyết ở gan, lách thận đi kèm với hoại tử chính là
nguyên nhân gây chết cá từ rải rác đến hàng loạt.
Bệnh
do Vibrio ở cá nhỏ có biểu hiện các
dấu hiệu bệnh lý kém rõ ràng, toàn bộ cơ thể cá sẽ được bao phủ bởi một lớp
dịch nhầy, nội quan hầu như không bị biến đổi gì. Tuy vậy, qua quan sát thì
thấy cá nhỏ thường chết nhanh hơn cá lớn.
Theo
báo cáo của Wong và Leong (2002) khi nghiên cứu so sánh về sự cảm nhiễm Vibrio ở cá chẽm khỏe và cá chẽm bị bệnh
nuôi lồng ở Penang, Malaysia thì cho biết: Vibrio có thể gặp ở cả nước mặn và nước
ngọt. Nhưng tỷ lệ cảm nhiễm ở cá bệnh là 81%, cao hơn nhiểu so với cá khỏe là
38%. Cũng vậy, trong nghiên cứu của mình về các tác nhân gây bệnh là vi khuẩn
có liên quan đến cá chẽm, ông Loganathan & ctv cho rằng Vibrio là tác nhân chính gây nên bệnh lở
loét trên da cá. [trích từ Vương Thị Thoa, 2009].
Theo
Azad và ctv, 2004 cho rằng khi quan sát những con cá chẽm giai đoạn 120 ngày
tuổi hấp hối và cá bị bệnh thì thấy hiện tượng xuất huyết trên vây lưng vây
ngực và vây hậu môn. Tiến hành phân lập vi khuẩn từ các mẫu thu được, thì kết
quả phần lớn là Vibrio. Và khi V.
anguillarum – Like (VAL) được cảm nhiễm với hai nồng độ là 104.5cfu/cá
bằng phương pháp tiêm và 106.3/ml bằng phương pháp tắm. Thì có thể
giết chết một nữa số cá sau một thời gian ngắn cảm nhiễm [trích từ Vương Thị
Thoa, 2009].
Theo
Ruangpan (2003), cá bệnh xuất hiện dấu hiệu đặc trưng là lở loét, xuất huyết
trên da và mô cơ, xung quanh hậu môn xuất hiện các vết viêm tấy và đỏ. Ngoài ra
còn có sự xuất huyết trên gan, lách, thận kèm theo có cả sự hoại tử. Ruột đặc
biệt là trực tràng có thể bị sưng to và chứa đầy dịch. Cũng đã phân lập được V. alginolyticus, V. parahemolyticus, V.
anguillarum từ cá bệnh [trích từ Vương Thị Thoa, 2009].
Tóm
lại, bệnh Vibriosis luôn là vấn đề cần được quan tâm vì nó gây thiệt hại rất
lớn đến nghề nuôi cá chẽm hơn nữa Vibrio
là giống luôn thường trực trong nước và bệnh có thể bùng phát lúc nào khi môi
trường nuôi bất lợi.
Bệnh Aeromonosis
Aeromonas gồm các chủng gram (-), hình
que, hai đầu tròn, kích thước khoảng 0.3-1.0 x 1.0-3.5 µm, đa số có khả năng
vận động bằng một tiên mao trừ Aeromonas salmonicida,
hô hấp yếm khí, không hình thành bào tử, không mẫn cảm với thuốc thử Vibriostat
(0/129). Nhiệt độ phát triển tốt nhất là 22-280C, một số không phát
triển ở 350C, phân bố ở cả môi trường nước ngọt và môi trường nước
mặn, chúng có thể có mặt trên cơ thể cá khỏe mạnh. Chỉ khi nào cá bị phơi nhiễm
với các điều kiện stress của môi trường như: biến động nhiệt độ và pH, hàm
lượng CO2 cao, hàm lượng DO thấp, ô nhiễm do sự thối rữa các sản
phẩm dư thừa … hoặc là bị thương do tác động cơ học hoặc do ký sinh trùng kí
sinh thì bệnh mới xuất hiện. Giai đoạn tiền
cấp tính hoặc mãn tính của bệnh do Aeromonas
xảy ra phổ biến ở cá lớn với những dấu hiện như: lờ đờ, mắt lồi nhẹ, xuất huyết
dạng hạt ở vây hậu môn, xuất huyết nhiều ở cơ và cả những mô khác. Ở nội quan
có thể gặp các dấu hiệu như: xuất huyết ở gan, lách sưng, thận có thể bị hoại
tử (Sunieszko, 1985; Carthy and Roberts, 1980). Giai đoạn này của bệnh thường
gây tỷ lệ chết thấp và cá có thể sống sót mặc dù những con sống sót thì có
những vết sẹo ở quanh vùng bị ung nhọt (Carthy, 1975a). Giai đoạn mãn tính của
bệnh thì không xảy ra thường xuyên, không thể hiện được triệu chứng điển hình
của bệnh (Sunieszko, 1958) [trích từ Vương Thị Thoa, 2009].
Giai
đoạn cấp tính của bệnh, xảy ra phổ biến ở cá lớn được thể hiện bởi sự nhiễm
trùng máu cùng với sự tối sẫm cơ thể, sự chán ăn, lờ đờ và có những điểm xuất
huyết nhỏ ở gốc vây. Giai đoạn này của bệnh thường xảy ra trong thời gian ngắn,
đến mức cá thường chết sau 2-3 ngày và gây tỷ lệ chết rất cao. Vi khuẩn tồn tại
đầy trong máu, thông qua mô và vết thương. Ở các cơ quan nội tạng, sự xuất
huyết xảy ra toàn bộ ở thành bụng, phủ tạng và tim, lách có thể bị sưng phồng.
Giai đoạn cấp tính của bệnh thường xảy ra đột ngột và có ít hoặc thậm chí không
có dấu hiệu bệnh lý bên ngoài (Carthy 1957a). Theo
Sararelli, 1891; Schaperclaus, 1930; Haley & ctv, 1976 thì loài vi khuẩn A. hydrophila đã được cho là tác nhân
gây bệnh chủ yếu ở đa số loài cá nước ngọt, đôi khi ở cả cá biển khi gây bệnh
lở loét ở cá tuyết (Larsen & Jersen, 1977). Tuy nhiên, một số nghi ngờ lại
nổi lên cho rằng A. hydrophila chỉ có
thể là tác nhân thứ cấp (Heuchmann, Burnnet, 1965; Eurell & ctv, 1978;
Michel, 1981). Ngược lại, một số nhóm khác lại cho rằng nó là tác nhân gây bệnh
mở đường. Aeromonas đã được phân lập
từ cá chẽm nuôi lồng ở tỉnh Krabi ở Thái Lan. Năm 1985, Rahim & ctv cũng đã
phân lập được A. hydrophila từ 5 loài
cá nước lợ trong đó có cá chẽm [trích từ Vương Thị Thoa, 2009].
Đối
với nghề nuôi cá chẽm thì bệnh Aeromonosis chưa được nghiên cứu nhiều nên vẫn
gây ảnh hưởng nghiêm trọng. Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về bệnh này
để có các biện pháp kiểm soát.
Bệnh Columnaris
Bệnh columnaris gặp ở cá nước mặn và
cá nước ngọt. Ở nước mặn, tác nhân gây bệnh phổ biến thường là Flexibacter maritimus, là một loại vi
khuẩn dạng sợi, Gram(-), vận động trượt. Bệnh thường phổ biến ở cá chẽm con
được nuôi trong điều kiện thấp trong suốt mùa mưa và mùa đông.
Dấu
hiệu có thể quan sát được là những vết thương tổn có dạng yên ngựa ở giữa cơ
thể gần vây lưng của cá. Những vết thương tổn này xuất hiện cân đối ở hai bên
sườn, màu nhợt nhạt với rìa màu tối, thường gây ăn mòn thối rữa, khi cá bị
nặng, phần cơ đuôi có thể bị cụt hoàn toàn. Tuy nhiên, việc chẩn đoán và nghiên
cứu bệnh thường gặp nhiều khó khăn do thường xuyên phân lập được cá loại vi
khuẩn khác như: Vibrio spp, Aeromonas spp,… tại các vết thương tổn
cũng như trong nội quan của cá bệnh. Mặc dù những nghiên cứu gần đây đã chứng
minh các loài vi khuẩn dạng sợi này có độc lực rất cao, có thể làm chết cá 100%
trong vòng 24 giờ trong điều kiện thí nghiệm.
Ngoài
ra, theo một vài nghiên cứu, những chủng như Bacillus gram(-), hiếu khí cũng
liên quan đến các vết thương tổn của những con cá bệnh. [trích từ Vương Thị
Thoa, 2009].
Bệnh Streptococcosis
Các giống cầu khuẩn như: Streptococcus, Staphilococcus, Entercoccus,
Micrococcuss … được coi là tác nhân
chính gây bệnh xuất huyết ở cá chẽm với các dấu hiệu bệnh như: màu sắc cơ thể
tối, mắt lồi, mang nhợt nhạt, xuất huyết ở gốc vây bụng, vây ngực, đôi khi gặp
tổn thương ở miệng dưới. Cá có thể chết hàng loạt sau khoảng thời gian ngắn. Từ
cá chẽm bệnh, đã phân lập được Streptococcus
iniae, là vi khuẩn gram(+), hình cầu, tồn tại dạng chuỗi, có khả năng dung
huyết, do vậy sự xuất huyết là một dấu hiệu điển hình của bệnh [trích từ Vương
Thị Thoa, 2009].
Bệnh thối đuôi mòn cụt không những gây chết cá mà những con cá sống sót
sau khi bệnh cũng có giá trị thương phẩm rất thấp. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh
là những vết loét trên cơ thể vây lưng và vây đuôi mòn cụt, đặc biệt phần đuôi
có thể bị mòn cụt hoàn toàn là dấu hiệu đặc trưng của bệnh. Các tác nhân được
tìm thấy ở vùng cơ bị thương tổn thuộc các nhóm vi khuẩn dạng sợi, gram(-) gồm:
Flexibacter, Flavobacteria, Cytophaga. Ngoài các vi khuẩn dạng sợi đó chúng ta
còm bắt gặp Vibrio và Aeromonas trong các nội quan hoặc các
vết thương tổn nhưng mật độ rất thấp. Vì các giống vi khuẩn này rất hay gặp
trong môi trường nước, bất cứ khi nào có cơ hội như khi có thương tổn trên bề
mặt là chúng có thể xâm nhập vào cơ thể và làm tăng tỷ lệ nhiễm của cá.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh
được rằng tác nhân chính bệnh thối đuôi mòn cụt ở cá nước ngọt và mặn là do các
loài vi khuẩn dạng sợi thuộc 2 giống Flexibaterium và Flavobacterium gây ra. Chúng thuộc họ Cytophagacae, là các vi khuẩn
hình que dài , kích thước vào khoảng 0.3 – 0.7x1 – 20µm, bắt màu gram(-), có
khả năng di động trượt trên bề mặt rắn, có phản ứng oxdase, caltalase dương
tính, phân giải gelatine, lên men đường glucose, sinh H2S. Các loài
vi khuẩn này là bọn tương đối khó tính, môi trườn chọn lọc cho sự phát triển
của chúng là Cytophaga Agar pha với 50 – 70% nước biển. trên môi trường nuôi
cấy chúng có kích thước ngắn dần theo thời gian nuôi cấy, một số tồn tại dạng
chuỗi ngắn gồm 2-3 tế bào.
Trong đó Flexibaterium maritimus được nghiên cứu
nhiều nhất, nó đã được ghi nhận là tác nhân gây bệnh thối đuôi mòn cụt bởi
nhiều tác giả: Masumura và Wakabayashi (1977); Hikida & ctv, 1979; Pyle và
Shott (1980, 1981); Wakabayashi & ctv, 1984; Trong 2 năm 1976, 1977 cá tráp
đỏ Pagrus major và cá tráp đen Acanthopagrus schlegeli nuôi ở Hiroshima
Prefecture, Nhật Bản bị mắc một loại bệnh với tỷ lệ chết cao. Sau khi cá chuyển
từ trại giống ra lồng nuôi khoảng 1-2 tuần thì bệnh bùng phát, tác nhân chính
được xác định là do Flexibaterium
maritimus (Wakabayashi & ctv, 1986) [trích từ Vương Thị Thoa, 2009].
Flavobacterium cũng được ghi nhận là tác nhân gây bệnh ở cá với sự
mô tả đầu tiên của Harrison và Saddler (1929)
về Fla. Balustinum. Các tác giả cho
rằng chúng thật sự là những tác nhân hủy hoại cá chứ không là tác nhân gây
bệnh, tới mức khi miêu tả khả năng nhiễm thì đã ám chỉ đến cái chết của cá. Báo
cáo đầu tiên về tác nhân gây bệnh ở cá của vi khuẩn Fla. piscicida gây ra tỷ lệ chết rất lớn ở cá biển nuôi tại Florida, USA
(Bein, 1954) [trích từ Vương Thị Thoa, 2009].
Dấu hiệu bệnh lý do Flexibacterium và Flavobacterium gây ra chủ yếu liên quan đến sự hoại tử ở mang, sự
thối đuôi mòn vây và những vết tổn thương lở loét ở da cả cá nước ngọt và mặn.
Tuy nhiên sự cảm nhiễm của các loài cá khác nhau thì biểu hiện dấu hiệu đặc thù
khác nhau. Theo Bein (1954), cá nhiễm Fla. piscicida với đặc điểm tổn thương dạng
hạt đi kèm với tỷ lệ chết cao. Còn ở Fle.
maritimus lại bao gồm sự ăn mòn ở miệng và sự thối của đuôi, đặc biệt là ở
cá nhỏ. Ở cá lớn hơn những vết thương, ban đầu phát triển vùng da màu trắng xám
ở trên vây, đầu , mình. Sau đó những vết thương này hoại tử thành những vết lở
loét. (Hikida et al., 1979; Wakabayashi et al., 1984) [trích từ Vương Thị Thoa, 2009].
Đỗ Thị Hòa và ctv (2007),
cũng xác định một loài vi khuẩn dạng sợi có đặc điểm sinh hóa tương tự như Flexibaterium maritimus đã được xác định là tác nhân gây bệnh ở cá chẽm, cá mú bị
bệnh thối đuôi, mòn vây cũng như một số loài cá biển nuôi ở Khánh Hòa. Bệnh
thường gặp ở cá nuôi lồng hơn là ao nuôi, tính chất mùa vụ không rõ ràng. Sự
xảy ra của bệnh liên quan đến nhiều yếu tố gây sốc như mật độ nuôi quá cao,
biến động môi trường, sau những trận mưa to.
Ngoài ra, ở cá chẽm nuôi
tại Australia,
người ta còn phân lập được một loại trực khuẩn gram(-), sợi mảnh, trơn trượt,
được xác định là Cytophaga johnsonae. Cá bị nhiễm nhiều nhưng chỉ
bị mòn trên trên bề mặt da, chủ yếu lầ phần sau lưng, các con cá bị nặng ở cả
vây ngực và miệng dưới. Loganathan & ctv (1989), nghiên cứu thành phần các
loài vi khuẩn hiện diện trên cá chẽm lở loét đã tìm thấy vi khuẩn dạng sợi
thuộc giống Flavobaterium – Cytophaga [trích từ Vương Thị Thoa, 2009].
Ở các mẫu cá bệnh ngoài các
nhóm vi khuẩn dạng sợi đã phát hiện còn có một số trực khuẩn thuộc giống Aeromonas và Vibrio ở vùng cơ và các nội quan nhưng ở mật độ thấp. Hai nhóm Aeromonas và Vibrio chỉ là tác nhân cơ hội, xâm nhập cảm nhiễm khi sức đề kháng
của cá giảm thông qua các vết thương tổn. Trong nghiên cứu của Đỗ Thị Hòa &
ctv (2007), ngoài việc xác định được Flexibacter
maritimus là tác nhân chính gây bệnh
thối đuôi, mòn cụt ở cá mú còn phát hiện được 2 loài vi khuẩn V. parahaemolyticus và V. alginolyticus.
Theo Nair & ctv, từ cá
chẽm bệnh với dấu hiệu như ăn mòn hai bên lưng, sự mòn cụt vây lưng, vây đuôi,
sự trầy xước ở miệng dưới, mắt lồi, vùng da lở loét và xuất huyết đã phân lập
được V. harveyi. Trong nghiên cứu của
Najiah, Lee, Shariff và Mohd (2003) đã phân lập được V. parahemolyticusi từ cá chẽm bệnh tại Ulu Klang, Malaysia.
Các tác giả cho rằng có sự khác nhau giữa các chủng thu từ các vùng địa lý khác
nhau. Năm 1985, Rahim & ctv đã phân lập được A. hydrophila từ 5 loài cá nước lợ trong đó có cá chẽm. Từ mẫu cá
chẽm bệnh nuôi lồng tại các tỉnh Satul, Trang và Krabi ở Thái Lan đã phân lập
được Vibrio sp, Pseudomonas sp, Aeromonas
sp. Bệnh xảy ra hầu hết các tháng trong năm với cao điểm là tháng 1 không
thấy xuất hiện ở tháng 4. Như vây đây không phải hoàn toàn là tác nhân gây bệnh
thối đuôi mòn cụt ở cá chẽm, chúng có thể là tác nhân gây ra một bệnh khác
[trích từ Vương Thị Thoa, 2009].
Mặc dù vậy, bên cạnh nhóm
vi khuẩn dạng sợi là tác nhân chính gây ra bệnh thối đuôi mòn cụt, mà sự có mặt
của 2 nhóm vi khuẩn Vibrio và Aeromonas cũng là những tác nhân nguy
hiểm gây bùng phát bệnh. Vì thế cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về mối quan hệ,
vai trò gây bệnh của 2 nhóm vi khuẩn này trong bệnh thối đuôi, mòn cụt, để có
những biện pháp phòng trị thích hợp.
Bệnh do ký sinh trùng cũng gây thiệt hại đáng kể đến nghề nuôi cá chẽm.
Trong đó nguyên sinh động vật là nhóm ký sinh trùng đã gây ra nhiều thiệt hại
rất lớn như trùng lông (Ichthyophthyrius),
trùng bào tử sợi (Cnidosponiridans)
và một số ký sinh trùng là tác nhân cơ hội. Sự bùng phát bệnh phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố như nhiệt độ, hàm lượng oxy, các đặc điểm của vật chủ như tuổi,
kích thước, khả năng đề kháng. Một yếu tố quan trọng là mật độ nuôi vì bệnh có
thể lây theo trục ngang, bệnh có thể bùng phát và lây lan nhanh trong thời gian
ngắn.
Cryptocaryo sp là loài trùng lông ký
sinh nước mặn và gây bệnh đốm trắng ở cá biển. Cá bệnh biểu hiện các dấu hiệu
như: tiết nhiều dịch nhầy, tơ mang bị phá hủy, trên da có những vùng bị thương
tổn nặng, biểu bì bị phá hủy. Ở cá chẽm, bệnh thường gặp trong mùa có nhiệt độ
thấp, ao có hàm lượng chất hữu cơ trong nước cao, ít thay nước và chất lượng
nước kém [trích từ Vương Thị Thoa, 2009].
Trùng
bánh xe (Trichodina sp) cũng là loài
gặp phổ biến, gây hại đặc biệt ở giai đoạn cá nhỏ. Chúng tấn công vào mang của
cá, làm cá không hô hấp được. Các dấu hiệu bệnh lý là tiết dịch nhầy, biểu bì
bị phá hủy, vây có thể bị xơ, cá hoạt động chậm chạp và cá cọ xát mình vào vật
cứng, bỏ ăn, nổi đầu, những con nhiễm nặng có thể chết. Bệnh trùng bánh xe
thường xảy ra khi mật độ cá chẽm nuôi trong lồng quá cao, hàm lượng chất hữu cơ
trong nước cao, chất lượng nước kém và nhiệt độ thích hợp vào khoảng 20 – 300C.
[trích từ Lưu Văn Biên, 2008]
Heneguya sp là bọn tiên mao trùng chủ
yếu tấn công vào mang cá chẽm nuôi lồng. Trong trường hợp cảm nhiễm nặng, nó có
thể được tìm thấy ở da. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là lây lan nhanh và gây
hoại tử mang.
Một
loài nguyên sinh động vật nữa có thể gặp ở cá chẽm nữa là trùng loa kèn Epistylis sp, chúng dùng cuốn để bám lên
cơ thể cá và gây hại.
Nhóm
ngoại ký sinh là giáp xác chân chèo Copepoda và bộ chân đều Isopoda cũng gây
những thiệt hại không nhỏ cho nghề nuôi cá chẽm, thậm chí đôi khi còn gây nên
tỷ lệ chết cao, đặc biệt là giai đoạn cá con. Chúng thường tấn công vào mang,
miệng, da, vây gây ra sự thiếu máu, bỏ ăn, chậm lớn. Một số giống thường gặp là
Lernanthropus, Caligus [trích từ Vương
Thị Thoa, 2009].
Ngoài
nhóm nguyên sinh động vật ký sinh, bệnh do ký sinh trùng ở cá chẽm còn liên
quan đến nhóm giun sán ký sinh. Có thể nói bệnh do giun sán ký sinh không gây
ra những vấn đề nghiêm trọng nhưng vẫn có ảnh hưởng nhất định đối với sức khỏe
của cá, làm chậm lớn cũng như làm giảm giá trị thương phẩm. Đã tìm thấy ở cá
chẽm các loài thuộc lớp sán lá đơn chủ, sán lá song chủ, giun tròn và giun đầu
gai ký sinh.
Bệnh
do sán lá đơn chủ chưa được nghiên cứu nhiều, có báo cáo cho rằng nhiệt độ là
yếu tố quan trọng quyết định đến sự xuất hiện của bệnh. Bệnh thường xảy ra rõ
ràng nhất ở giai đoạn cá nhỏ và mẫn cảm. Một số loài sán lá đơn chủ được tìm
thấy ở mang cá chẽm gồm có: Diplectanum
latersi, Dacgylogyrus sp nhưng
vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ.
Lecithochirium sp là loài sán lá song
chủ được tìm thấy ở trong ruột cá chẽm đặc biệt là cá tự nhiên với tỷ lệ nhiễm
lên đến 86% nhưng cường độ cảm nhiễm không cao. Một loài khác cũng phổ biến ở
cá chẽm là Pseudometadena celebesensis,
tỷ lệ nhiễm là 100% nhưng cường độ cảm nhiễm rất thấp nên tác hại không đáng
kể.
Ngoài
ra, ở ruột cá trưởng thành còn bắt gặp giun tròn thuộc giống Cuculanus, hay giun đầu gai Acanthocephala ký sinh nhưng tác hại
không lớn nên chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều [trích từ Vương Thị Thoa,
2009].
Tuy
cường độ cảm nhiễm thấp và tác hại không lớn nhưng sự ký sinh của các loài giun
sán nội ký sinh vẫn ít nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi và giá trị thương
phẩm. Do vậy, cần có những nghiên cứu khác để giải quyết triệt để vấn đề này.
Bệnh
do giáp xác chân chèo ký sinh: là một trong những loại ký sinh trùng có sức tàn
phá nguy hiểm nhất, con cái trưởng thành bám vào cá và hút chất dinh dưỡng. Sau
khi giao phối con cái thành thục và đẻ ra túi trứng trong khi con đực chết đi. Caligus sp gây nhiều vấn đề lớn đối với
cá chẽm nuôi, chúng bám vào mang cá, xoang miệng và xoang nắp mang, đôi khi
trên da và vây cá chẽm. Nếu mức độ nhiễm nặng có thể gây tử vong hàng loạt đặc
biệt là cá con [được trích từ Lưu Văn Biên, 2008].
Bệnh
do đỉa cá ký sinh, cá chẽm cũng là đối tượng hay bị nhiễm đỉa ký sinh và hút
máu làm cá gầy yếu. Nếu nhiễm nặng cá có thể chết rải rác tới hàng loạt do suy
dinh dưỡng và nhiễm trùng thứ cấp. Cá bệnh thường bơi lên trên mặt nước, chuyển
động chậm chạp. Trên vây, xương cung mang, xoang miệng có thể bị bám hàng trăm
con đỉa có kích thước dài khoảng 1,5 – 2cm, tại đó sẽ có hiện tượng xuất huyết
do tác động cơ học và hoá học của trùng ký sinh. Khi nhiễm nặng cá có thể bị
thương tổn trên bề mặt cá và gây nhiễm khuẩn thứ cấp làm cá chết nhiều. Để hạn
chế bệnh xảy ra cần vệ sinh lồng nuôi, bể thường xuyên 1-2 lần/tuần, dọn sạch
cỏ rác trong ao, không nuôi với mật độ cao, trao đổi nước thường xuyên nếu có
thể. Cá mắc bệnh cần tắm bằng formol 200 – 250ppm trong 30 – 60 phút, kèm theo
sục khí mạnh, sau đó tắm cá trong nước có kháng sinh có nồng độ 1-2ppm trong 1 đến 2 giờ để chống lại sự nhiễm
khuẩn thứ cấp, có thể tắm cá trong nước ngọt 5 – 20 phút tuỳ theo loài [trích
từ Lưu Văn Biên, 2008].
Cá chẽm còn có thể mắc phải các bệnh
do dinh dưỡng hoặc do môi trường. Khi dinh dưỡng kém, môi trường biến động, yếu
tố độ mặn, nhiệt độ thay đổi đều có thể gây ra tỷ lệ chết ở cá và là điều kiện
để các tác nhân virus, vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng tấn công, gây bùng phát
dịch bệnh. Có các bệnh sau:
Bệnh
thiếu vitamin B1: Cá có dấu hiệu bơi chậm chạp, không định hướng màu sắc cơ thể
trở nên trắng nhợt. Có hiện tượng
xuất huyết ở xung quanh miệng, vây, thân cá (có thể do va chạm cơ học khi cá
vận động không bình thường). Nguyên nhân do các ao lồng nuôi cá chẽm bằng cá
trích vì trong, cơ thể chúng có chứa 1 loại enzyme Thiaminaza chất này sẽ phân
hủy vitamin B1, gây thiếu hụt. Khi thiếu hụt B1 sẽ ảnh hưởng đến hệ thần kinh,
hệ tiêu hóa và sinh sản. Để hạn chế bệnh này cần bổ sung vitamin B1 tổng hợp
vào thức ăn, nên phối trộn nhiều loại cá tạp trộn lẫn với nhau làm thức ăn, tốt
nhất nên bổ sung B1 tổng hợp 1 lần/tuần [trích từ Lưu Văn Biên, 2008].
Bệnh
dị hình cột sống do dinh dưỡng xảy ra ở giai đoạn cá hương, cá giống thể hiện cột
sống bị cong, bị ưỡn ra và bụng cá hóp lại, cá bệnh ăn ít hoặc bỏ ăn và chết.
Có thể do người ta dùng thức ăn tổng hợp kém chất lượng, thiếu vitamin C trong
thức ăn của cá, dùng thức ăn cá tạp bảo quản không tốt bị ươn thối là những
nguyên nhân làm dị hình cột sống. Để giảm thiểu bệnh này thì thức ăn tổng hợp
phải có chất lượng tốt và bảo quản tốt, bổ sung vitamin C vào cho cá, thức ăn cá
tươi cần đảm bảo tốt chất lượng [trích từ Lưu Văn Biên, 2008].
Hội
chứng cá có bụng phình to, bụng cá có bụng phình to giống như cá cái sắp đến
thời kỳ đẻ trứng, cá nổi lên tầng mặt nước, bơi không bình thường mất thăng
bằng, cá có thể chết. Nguyên nhân chính là do chất lượng nước thay đổi đột
ngột. Để giải quyết bệnh trên nếu là cá thương phẩm thì cho thu hạch gấp, nếu
là cá bố mẹ dùng kim chích vào bụng cá, rồi đưa cá trở lại vào nước ép nhẹ
nhàng cho hơi thoát ra. Dùng cồn 700 sát trùng vào mũi kim tiêm đã
chích vào bụng cá [trích từ Lưu Văn Biên, 2008].
Nhìn chung tình hình nghiên cứu bệnh lở loét ở các loài cá biển đã được
nghiên cứu nhiều, chủ yếu nghiên cứu về cá mú, cá chẽm một số loài cá khác.
Nhưng mức độ đầu tư và giải quyết vấn đề dịch bệnh thì vẫn chưa triệt để nên
đòi hỏi phải có nhiều nghiên cứu hơn nữa. Một số công trình nghiên cứu đưới đây
một phần nào đã xác định nguyên nhân chính gây ra bệnh và các biện pháp cơ bản
phòng trị thích hợp để giải quyết vấn đề đang ngày càng diễn ra hết sức khó
khăn cho ngành nuôi cá biển nước ta.
Đỗ Thị Hòa và ctv thì xác định bệnh
lở loét là cả một hội chứng lở loét với tên gọi là The Epizootic Ulcerative Syndrome of fish – EUS bệnh nguy
hiểm lây lan nhanh gây tác hại lên cá nuôi và cá tự nhiên ở nhiều quốc gia
trong khu vực châu Á Thái Bình Dương.
Mẫu
cá bệnh lở loét đã phát hiện được rất nhiều tác nhân như: virus dạng hình que,
acid nucleic là ARN có tên là Rhabdovirus
ở gan cá lóc, cá trê (Wattana vijarn, 1984), phân lập được Binavirus từ cá bống tượng và cá lóc (Hedrick, 1986). Bên cạnh đó
cũng phân lập một số loài vi khuẩn quen thuộc như Vibrio annguillarum trên cá nước mặn và Aeromonas hydrophyla, Pseudomonas
sp trên cá nước ngọt bị EUS. Viện nghiên cứu thủy sản I đã phân lập được Aeromonas hydrophyla từ các loài cá nước
ngọt cá lóc, cá tai tượng, cá sặc rằn, cá trắm cỏ, cá rô đồng, cá mè vinh, cá
basa, cá he bị bệnh EUS. Mặc khác tác nhân ký sinh trùng Monogenea, Protozoa, Crustacae cũng tìm thấy trên cơ thể cá
bị bệnh EUS, tác nhân ký sinh trùng vừa là tác nhân cơ hội vừa là tác nhân gây
thương tổn tạo điều kiện các tác nhân khác cùng cảm nhiễm và gây tác hại. Ngoài
ra một số nấm bậc thấp cũng được tìm thấy như Aphanomyces spp, Saprolegnia
spp và Achlya … ở cá bị bệnh EUS.
T uy nhiên một số nghiên cứu gần đây đã có những
kết luận thống nhất rằng nấm được coi là nguyên nhân chính để tạo ra hiện tượng
hoại tử EUS trong hỗn hợp nhiều tác nhân. Nấm bậc thấp Aphanomyces invadans là tác nhân chính gây ra tổn thương nặng nề
trong cơ thể cá bệnh, các tác nhân khác có thể là những tác nhân đầu tiên
(virus, ký sinh trùng) và nguyên nhân thứ cấp (vi khuẩn). Hatai (1980), đã phân
lập được chủng nấm Aphanomyces piscicida
trên da cá bệnh lở loét ở Nhật Bản. Nấm Aphanomyces
sp được phân lập từ cá bệnh lở loét ở châu Á và Úc (Callinan, 1995; Lilley,
1997; Lilley và Roberts, 1997; Lilley và Inglis, 1997). [trích từ Đỗ Thị Hòa
& ctv, 2004]
Các
dấu hiệu đầu tiên của bệnh là cá ít ăn hoặc bỏ ăn, hoạt động chậm chạp, khi bơi
thường nhô cái đầu bị hoại tử lên trên mặt nước. Da cá sẫm lại, có vết mòn màu
xám hoặc các đốm đỏ phát triển ở đầu, than, các vây và đuôi. Những vết mòn dần
lan rộng và sâu thành những vết loét, vẩy rụng, xuất huyết và viêm. Những con
cá bị bệnh nặng, vết lõm xâu tới xương, làm phần cơ hai bên cơ thể bị hoại tử
và để lộ ra những nội quan của cá. Tại các vết loét lớn, vùng trung tâm vết
loét có màu xám, mép xung quanh có màu đen. Trung tâm của vết loét, thường là
vị trí phát triển thích hợp của các giống nấm bậc thấp. Các biện pháp ngăn chặn
bệnh EUS bùng phát là:
+
Lựa chọn các loài cá có khả năng kháng với bệnh EUS cao là biện pháp hiệu quả
nhất để quản lý bệnh. Ngăn chặn sự xâm nhập nấm vào ao nuôi cũng là biện pháp
phòng bệnh. Phơi khô đáy ao và dùng vôi nung (CaO) trước và sau vụ nuôi là thao
tác hết sức cần thiết. Diệt cá tạp và động vật hoang dã để giảm mầm bệnh.
+
Trong quá trình nuôi, thường xuyên rắc vôi nung CaO với nồng độ 20ppm (2kg vôi
nung/ 100m3 nước), 2 tuần rắc 1 lần. Vôi cá tác dụng khử trùng rất
tốt, đồng thời cung cấp Ca++ cho thủy vực có thể khử chua cho các
vùng đất bị phèn. Có thể thay thế vôi bằng Ca(OCl2)2 với
liều lượng 1ppm.
+
Đàn cá gống trước khi thả cần tắm cá bằng NaCl 2-3% trong5-15 phút để tẩy trùng
các tác nhân gây bệnh bên ngoài, tránh các tổn thương cơ học trên cơ thể cá.
+
Các nguồn nước cấp vào phải khử trùng và duy trì môi trường nuôi có chất lượng
nước tốt. Vào mùa bệnh, với các đối tượng nuôi có tính nhạy cảm cao với EUS,
nên bổ sung vitamin C vào trong thức ăn cho cá để tăng khả năng đề kháng của cá
trước sự tấn công của các tác nhân gây bệnh. Các ao đìa nuôi cá đã bị nhiễm
bệnh cần cách ly và tiệt trùng nước ao trước khi xả bỏ ra môi trường [trích từ Đỗ
Thị Hòa & ctv, 2004].
Kết
quả nghiên cứu của Đặng Thị Minh Trang (2005) cũng cho thấy phân lập định danh
được 49 chủng vi khuẩn trên 16 mẫu cá bệnh xác định được 8 loài bao gồm: 4 loài
Vibrio, 2 loài Edwardsiella, 1 loài Pasteurella
piscicida, 1 loài Pseudomonas sp.
Trong đó 2 loài vi khuẩn V. parahaemolyticus
và V. alginolyticus có tần số bắt gặp
cao nhất, 2 loài vi khuẩn Pasteurella
piscicida và Pseudomonas sp chỉ
phân lập được trên 1 mẫu cá bệnh. Chúng tôi làm kháng sinh đồ trên 2 chủng vi
khuẩn V. alginolyticus và V. carcharie với 7 loại kháng sinh: Vi
khuẩn V. alginolyticus nhạy cảm cao
với 3 loại kháng sinh: Tetracylin, Ciprofloxacine, Erythromycine. Với vi khuẩn V. carcharie nhạy cảm với 4 loại kháng
sinh: Tetracylin, Ciprofloxacine, Erythromycine, Streptomycin. Khi tiến hành
cảm nhiễm ngược trở lại thì thấy 2 chủng vi khuẩn V. alginolyticus và V.
carcharie đều gây nhiễm bệnh và làm cá chết, tuy nhiên mức độ nhiễm của V. alginolyticus cao hơn nhiều so với V. carcharie với các dấu hiệu đặc trưng.
Chứng minh được rằng vi khuẩn V.
alginolyticus là tác nhân chính gây nên bệnh lở loét ở cá mú, còn V. carcharie có thể chỉ là tác nhân cơ
hội [trích từ Đặng Thị Minh Trang, 2005].
Nguyễn Thị Thanh Thùy (2005) trong “Tìm hiểu bệnh lở loét ở các loài cá mú (Seranidea)
nuôi tại Khánh Hòa” kết quả phân tích cho biết: từ mẫu cá Mú lở loét đã phân
lập được 9 loài vi khuẩn thuộc 4 giống khác nhau. Trong đó Vibrio chiếm 55.6% tổng số, các loài với tần số bắt gặp cao là loài
V. parahaemolyticus (TLCN: 56%), V. alginolyticus (50%), V. carchariae (25%) ngoài ra còn gặp 2
loài thuộc giống Edwardsielle và 1
loài thuộc giống Pasteurella. Các
chủng vi khuẩn này đều được phân lập từ mẫu cá mú bị bệnh có độ nhạy cảm với
kháng sinh Ciprofloxacine, Erythromycin và Tetramycin nhạy vừa với Streptomycin
kháng thuốc với Ampiciline, Cefalecine và Kanamycine. Khi thí nghiệm cảm nhiễm
ngược trở lại thì nhận thấy V. parahaemolyticus và V. alginolyticus là tác nhân chính gây
nên bệnh lở loét ở cá mú. Kiểm tra ký sinh trùng thì bắt gặp có 7 loài thuộc 7
ngành 4 lớp 5 bộ 6 họ và 7 giống, trong đó sán lá đơn chủ monogenia
(Pseudorhabdosynochus epinephely) ký sinh ở mang. Benedenia ký sinh ở da và
trùng bánh xe (Trichodina sp) tỷ lệ cảm nhiễm cao nhất lần lượt là 37,5% và
25%, chúng là tác nhân mở đường cho các vi khuẩn xâm nhập gây bệnh lở loét.
Bệnh thường xảy ra vào ùa xuân hè (tháng 3-7) tỷ lệ chết lên đến 20 – 30% lượng
cá trong ao/lồng/ vụ [trích từ Nguyễn Thị Thanh Thùy, 2005].
Bệnh Vibriosis (bệnh xuất huyết lở loét) theo Đỗ Thị Hoà và
ctv nghiên cứu kết quả cho biết:
Cá
bệnh xuất hiện các vết thương tổn trên bề mặt cơ thể, tróc vẩy và xuất huyết
dưới da, nặng hơn có các vết loét sâu trên bề mặt cơ thể. Cá bệnh bơi lờ đờ
trên mặt nước, kém ăn hoặc bỏ ăn và chết lác đác. Tần xuất gặp (65/90): trong
đó cá mú: 40/65, cá hồng: 12/20, cá chẽm: 10/25. Mùa khô (nhiệt độ cao) là thời
gian xuất hiện chính của bệnh này (64,6%). Mọi kích cỡ của cá đều có thể nhiễm
bệnh. Bệnh Vibriosis gặp cao ở cá nuôi lồng (100%), cá nuôi ao gặp thấp hơn
(58,3%). Một số loài vi khuẩn Vibrio spp đã phân lập được từ nội tạng cá bệnh,
trong đó Vibrio anguillarum đã gây bệnh trong điều kiện cảm nhiễm
nhân tạo (60-80%) với liều tiêm 0,3ml huyền dịch có mật độ vi khuẩn 4.106
- 4.107 tb/ml sau 3 ngày thử
thách. Kết luận nhận thấy rằng một số bệnh xuất hiện quanh năm, như bệnh mòn
đuôi và vây, hội chứng dị dạng. Một số bệnh khác lại có tính mùa vụ: Bệnh
Vibriosis và bệnh hoại tử thần kinh thường tập trung vào mùa khô (mùa có nhiệt
độ cao); Bệnh sán lá da, bệnh sán lá mang thường tập trung xảy ra vào thời gian
giao thời giữa mùa mưa sang mùa khô. Các bệnh rận cá, bệnh đốm trắng ở thận,
bệnh lymphocystic và bệnh đỉa cá lại xảy ra nhiều hơn vào mùa mưa, mùa có nhiệt
độ mát mẻ ở Khánh Hòa (22 – 280C) [trích từ Đỗ Thị Hòa &
ctv, 2008].
Năm 2009, kết quả nghiên cứu của Vương
Thị Thoa cho biết bệnh mòn cụt, thối đuôi, lở loét do vi khuẩn là bệnh rất
thường gặp ở cá chẽm và gây tỷ lệ tử vong rất cao, gây thiệt hại không nhỏ cho
người nuôi. Bệnh xảy ra ở giai đoạn phát triển của cá đặc biệt thường gặp gây
tác hại lớn ở giai đoạn cá nhỏ. Kết quả tìm thấy 4 loài vi khuẩn Flexibacterium sp1, Aeromonas sp, Vibrio
alginolyticus, Vibrio sp… trong
đó thì Flexibacterium sp1 có tần số
bắt gặp cao nhất (33/33). Tiến hành cảm nhiễm ngược trở lại cá trong phòng thí
nghiệm với loài Flexibacterium sp1,
sau 50 giờ theo dõi thì 100% cá chết với các dấu hiệu bệnh lý tương tự như cá
bị nhiễm ngoài tự nhiên. Qua nuôi cấy phân lập thu được 1 loài vi khuẩn có đặc
điểm hình thái sinh hoá hoàn toàn trùng khớp với vi khuẩn cảm nhiễm ban đầu.
Trong đó lo đối chứng hoàn toàn không phát hiện được sự có mặt của vi khuẩn cảm
nhiễm. Qua đó đã chứng minh được vi khuẩn dạng sợi Flexibacterium sp1 là tác nhân chính gây bệnh mòn cụt, thối đuôi,
lở loét ở cá chẽm. Loài này có tính mẫn cảm trung bình với các kháng sinh
Amoxicylin, Ceflalexin, Ethromycin, Gentamycin, Norloxacin mẫn cảm yếu với
Nalidixic acid, Doxycyline vì thế cần tìm ra kháng sinh thích hợp để trị bệnh
trên là rất cần thiết [trích từ Vương Thị Thoa, 2009].
--------abdc--------
Từ ngày 10/05/2010 đến 21/08/2010
Thu mẫu tại các đìa nuôi
thương phẩm tại Khánh Hòa.
Xử lý và phân tích mẫu
tại phòng Bệnh học thủy sản, khoa Nuôi trồng Thủy sản của trường đại học Nha
Trang.
Cá chẽm (Lates calcarifer, Bloch 1790) nuôi
thương phẩm tại Khánh Hòa.
+ Cồn tuyệt đối, cồn 95%, cồn 80%, cồn
70%, cồn 50%,.
+ Acid acetic, acid piric, acid citric,
xilen, keo bomcanada.
+ Formaline, nước cất
+ Parafin
+ Hóa chất để nhuộm: Hematoxyline –
Mayer và Eosin
+ Dung dịch cố định mẫu: dung
dịch Bouin
+ Bộ giải phẩu cá, lam, lamel, đèn cồn,
cốc đong, lọ đựng mẫu, nồi đun nước, bếp điện khăn lau.
+ Máy đổ parafin, máy cắt microtom, máy
sấy slide, khay nhuộm, buồng nhuộm mẫu, kính hiển vi, máy ảnh kỹ thuật số.
Quy trình tiến hành làm tiêu bản mô
bệnh học
Phương pháp thu mẫu và cố định:
– Lựa chọn ao bể lồng nuôi cá chẽm xuất hiện dấu hiệu bệnh lý rõ ràng
của bệnh lở loét như: rụng vẩy, xơ vây và lở loét thân.
– Mẫu thu chia làm hai loại: cá khỏe không xuất hiện các dấu hiệu bệnh
lý, và cá bệnh có xuất hiện các dấu hiệu bệnh lý để đối chứng.
– Mẫu thu phải còn sống và ghi đầy đủ thông tin như: ngày thu, địa điểm
nguồn gốc thu mẫu, cỡ cá, dấu hiệu bệnh lý.
Phương pháp xử lý mẫu:
– Lấy mẫu ra
khỏi dung dịch bảo quản cồn Etanol 70%
– Ngâm trong cồn Etanol 95% trong 4h
– Ngâm trong cồn tuyệt đối Etanol
trong 4h
– Lấy mẫu ngâm trong dung dịch Methyl
salicylate từ 12-24h
– Thấm trong Parafin nóng chảy ở
nhiệt độ 650C trong 6h – 12h.
Phương pháp đúc Parafin và cắt lát mẫu:
– Lấy mẫu đã ngâm trong
parafin cho vào khuôn đã đổ parafin nóng chảy và sắp xếp mẫu hợp lý.
– Cho khuôn lên giàn lạnh để khoảng
5-10phút.
– Lấy mẫu ra và dùng dao
gọt để gọt mẫu thành khối hình thang cân hoặc hình chữ nhật.
– Gắn chặc mẫu lên khuôn
gỗ.
– Gắn khuôn gỗ chứa mẫu
lên máy microtom.
– Cắt lát có độ dày từ
5-7µ
– Đưa mẫu vào nước ấm
40-500C trong khoảng 1-2phút có thể lâu hơn để mẫu giãn hết cỡ không
bị nhăn, trong nước ấm có bổ sung lòng trắng trứng gà.
– Dùng lam sạch lấy lát
cắt ra khỏi nước
– Đặt lên máy sấy ở nhiệt
độ 45-600C trong 1- 4h
Phương pháp nhuộm
Hematoxyline – Mayer và Eosin:
+ Làm mất parafin:
·
Xilen I: 5 phút
·
Xilen II: 5 phút
+ Làm no nước mẫu:
·
Etanol 100% 2-3 phút
·
Etanol 100% 2-3 phút
·
Etanol 95% 2-3 phút
·
Etanol 95% 2-3 phút
·
Etanol 80% 2-3 phút
·
Etanol 80% 2-3 phút
·
Etanol 50% 2-3 phút
+ Rửa nước: nhúng trong nước từ 3-6 lần
+ Nhuộm Hematoxyline – Mayer từ 4-6 phút
+ Rửa qua nước chảy nhẹ từ 4-6 phút
+ Nhuộm Eosin 2 phút
+ Lấy nước mẫu:
·
Etanol 95% 10 lần nhúng
·
Etanol 95% 10 lần nhúng
·
Etanol 100% 10 lần nhúng
·
Etanol 100% 10 lần nhúng
+ Làm trong mẫu:
·
Xilen I: 2-3 phút
·
Xilen II: 2-3 phút
+ Đậy lamel băng keo Bomcanada rồi dán
nhãn, chú ý pha keo Bomcanada với xilen sao cho vừa đủ để khi xilen bay hơi
không tạo các vùng khoảng không khí trên tiêu bản.
+
Thuốc nhuộm gram gồm: Crystal Violet, Lugol, cồn Acetone và Fushin.
+ Thuốc thử kèm theo các test api 20E.
+ Giấy tẩm hóa chất Tetramethyl
Phenylenediamine Edihydroclorid để thử phản ứng Oxidase.
+ Nước muối sinh lý, dầu soi kính, cồn
tuyệt đối.
+ Tủ ấm, tủ lạnh, tủ sấy, nối áp suất, bếp điện,
kính hiển vi.
+ Giá đựng ống nghiệm.
+ Hộp lồng, ống nghiệm.
+ Que cấy đầu tròn, đầu nhọn, trang cấy.
+ Pipet, micropipette, đầu micropipette.
+ Đèn cồn.
+ Lam, lamen.
+ Bông không thấm nước, etiket.
Ngoài ra còn một số dụng cụ khác như: xô,
chậu, …
+ Môi
trường tổng hợp: TSA (Tryptic Soy Agar), TSB (Tryptic Soy Broth) đều bổ sung 2%
muối và môi trường TCBS (Thiosulfat Citrate Bilesalt Sucrose) không bổ sung
muối.
+ Môi trường O/F để kiểm tra
khả năng lên men và oxi hóa của vi khuẩn.
+ Test
api 20E để thử các phản ứng sinh hóa với các chủng trực khuẩn.
Nuôi cấy phân lập (Môi trường TSA)
Phương pháp: dùng que cấy đầu tròn
lấy 1 khúm khuẩn lạc, rồi ria thành đường zich zắc (đường 1), đốt que cấy rồi
kéo que cấy cắt các đường cấy 1 rồi tạo thành đường zich zắc (đường 2), cứ như
vậy ta kéo khoảng 3 - 4 đường trên mặt thạch (hình 2.3).
Nuôi cấy trên môi trường
TSA và TCBS, sau khi cấy xong lật ngược đĩa lồng lại và giữ ở tủ ấm 30 – 350C
trong 24 giờ quan sát kết quả.
Nuôi cấy tăng
sinh (trên hộp lồng- môi trường TSB)
Lưu giữ chủng vi khuẩn trong môi
trường TSB bổ sung 10% glycerol.
Phương pháp tiến hành:
dựa theo “Tài liệu Một số phương pháp nghiên cứu bệnh ở động vật thủy sản’’ của
trường đại học Nha trang, khoa Nuôi trồng Thủy sản, bộ mô bệnh học thủy sản. Theo Đỗ Thị Hoà và Bùi Quang Tề nghiên cứu bệnh vi khuẩn ở
cá và động vật thuỷ sản.
![]() |
Thử phản ứng Oxidase:
Dùng que cấy đầu
tròn lấy 1 khúm khuẩn lạc phết lên trên 1 miếng giấy có tẩm hóa chất
Tetramethyl Phenylenediamine Edihydrochloride 1%, đợi khoảng 10 phút rồi đọc
kết quả.
Nếu (+): khúm vi khuẩn chuyển sang
màu tím xanh.
Thử phản ứng O/F:
Dùng que cấy lấy 1 ít vi khuẩn rồi
cắm sâu vào ống nghiệm đổ môi trường O/F, sau đó dùng pipet nhỏ vài giọt dầu
vào 1 trong 2 ống. Ủ trong tủ ấm 24h rồi đem ra đọc kết quả.
+ Nếu O/F (vi khuẩn vừa có khả năng oxi hóa vừa có khả
năng lên men): cả 2 ống đều có màu vàng.
+ Nếu O (vi khuẩn có khả năng oxi
hóa, không có khả năng lên men): ống không nhỏ dầu có màu vàng, ống nhỏ dầu màu
xanh nước biển.
+ Nếu F (vi khuẩn không có khả năng
oxi hóa, có khả năng lên men): ống nhỏ dầu có màu vàng, ống không nhỏ dầu có
màu xanh nước biển.
-------abdc-------
Trong
thời gian nghiên cứu, các mẫu đã phân tích là 35 mẫu được thu ở các đìa nuôi
thương phẩm Khánh Hòa có 25 mẫu có xuất hiện các dấu hiệu bệnh lý bệnh lở loét (có
12 mẫu lở loét nặng, 6 mẫu kèm thêm xuất huyết gan và 7 mẫu bắt đầu lở loét) và
10 mẫu cá chưa có dấu hiệu bệnh lý được phân tích bằng kỹ thuật mô bệnh học.
|
STT
|
Tình trạng
bệnh lý
|
Kích thước
|
Tổng số mẫu
kiểm tra
|
|
1
|
Cá khỏe
mạnh, bình thường không có các dấu hiệu bệnh lý
|
7.5 – 13.5 cm
|
10
|
|
2
|
Cá bị bệnh
lở loét thân, xơ vây, hoại tử vùng cơ, vây và đuôi bị ăn mòn cụt.
|
5 – 23cm
|
25
|
|
3
|
Tổng số con
đã phân tích
|
5 – 23cm
|
35
|
Các
dấu hiệu đầu tiên của cá là ít ăn hoặc bỏ ăn, hoạt động chậm chạp, da cá sẫm
lại, có vết mòn màu xám hoặc các đốm đỏ phát triển ở đầu, thân, các vây và
đuôi. Các vết mòn đó dần lan rộng và sâu thành những vết loét, rụng vẩy xuất
huyết và viêm.
Các
con cá bệnh nặng vết loét sâu tới xương, làm phần cơ bị hoại tử nặng có thể để
lộ phần nội quan của cá. Các vết loét lớn vùng trung tâm vết loét có màu xám,
các mép xung quanh có màu đen. Đôi khi vết loét có màu trắng đục, trắng trong có
nhiều nhớt, cơ vùng loét bị nhão thối rữa. Các vây đuôi bị ăn mòn có những con
cá đuôi bị mòn cụt hoàn toàn để lộ ra ngoài phần xương đuôi.


Trong
tổng số 25 mẫu cá bệnh đi phân tích thì có 12 mẫu là lở loét nặng, 7 mẫu là lở
loét nhẹ và 6 mẫu xuất hiện dấu hiệu xuất huyết vây, đuôi và xuất huyết nội
quan gan nặng và cả thận. Cấu trúc mô tế bào các cơ quan bị biến đổi lớn như:
sự xuất huyết, bao vây tập trung các tế bào máu làm vỡ cấu trúc tế bào, các mô
liên kết cũng bị vỡ vụn ra không còn giữ được cấu trúc bình thường của cơ quan
đặc trưng. Từ việc biến đổi cấu trúc của mô tế bào làm ảnh hưởng đến chức năng bình
thường của cơ quan, làm rối loạn hoạt động sống, quá trình trao đổi chất tế
bào. Sự biến đổi cấu trúc tế bào các cơ quan cá bệnh lở loét được thể hiện như
sau:
|
STT
|
Mô
cơ quan
|
10
mẫu bình thường
|
12
mẫu sắp lở loét
|
13
mẫu lở loét nặng
|
|
1
|
Mô
gan
|
K
|
C
|
C
|
|
2
|
Mô
thận
|
K
|
C
|
C
|
|
3
|
Mô
lách
|
K
|
C
|
C
|
|
4
|
Mô
não
|
K
|
K
|
I
|
|
5
|
Mô
cơ
|
K
|
C
|
C
|
|
6
|
Mô
tim
|
K
|
K
|
I
|
Trong đó: K: không biến đổi
C: Có biến
đổi
I: ít (biến
đổi không đáng kể)
Gan là một cơ quan bài tiết chất độc cho
cơ thể, nằm ở khoang bụng chung với nội tạng ruột, lách, dạ dày, các mô mỡ. Mô gan cá chẽm được cấu tạo
bởi rất nhiều ống gan xếp sít nhau, giữa các ống này liên kết với nhau bởi lớp
mô liên kết. Giữa các mô liên kết là các mạch máu và nhiều tế bào hạt mỡ lipid
hoặc các không bào glycogen (Hình 3.3).

Hình 3.3: Mô
gan bình thường
Trên
lát cắt mô bệnh học của gan cá chẽm bệnh lở loét cho thấy một số biến đổi về tổ
chức mô như: xuất huyết gan, hoại tử tế bào gan, tắt nghẽn mạch máu, phình to của
mạch máu, sự phá hủy cấu trúc mô liên kết. Ở cá có biểu hiện lở loét, mô gan có
hiện tượng xuất huyết, trên tiêu bản mô học, các vùng xuất huyết bắt màu hồng
của eosine (Hình 3.4). Nhiều lát cắt khác ở mô gan của cá chẽm bị lở loét còn cho
thấy sự tắt nghẽn của mạch máu (Hình 3.5) và sự phình to lên của mạch máu bất
thường (Hình 3.6).
Một số cá lở loét trên tiêu bản mô
học, có sự hoại tử ở gan (Hình 3.7) các tế bào gan bị phá hủy, không còn thấy
được các ống gan xếp sít vào nhau như bình thường và các ống gan bị phá hủy và
biến dạng. Một dạng nữa mô gan nhiễm quá nhiều tế bào lipid và không bào
glycogen không bình thường (Hình 3.8).


Thận
là cơ quan lọc nước tiểu bài tiết cho cơ thể ngoài ra còn là nơi tạo máu cơ thể,
thận nằm ở khoang bụng, có màu đen, màu nâu sáng hoặc nâu sậm, thận có đầu thận
và thận chạy dài bên dưới cột sống. Giữa các ống thận là các mô tạo máu, ống
thận gồm ống dẫn gần, ống dẫn xa và các cầu thận để thu nhận và dẫn nước tiểu
đổ vào bàng quang rồi đổ ra ngoài. Chính vì thế sự biến đổi bất kỳ nào cũng ảnh
hưởng đến chức năng của nó (Hình 3.9) thận bình thường.

Trên lát cắt mô bệnh học của cá chẽm
bệnh lở loét khi quan sát ở độ phóng đại 100X đến 400X đã có một số biến đổi về
tổ chức: ở cá chẽm bị lở loét trên tiêu bản mô học, cho thấy thận bị hoại tử các
tế bào ống thận đã bị phá hủy các ống thận không còn xếp sít nhau nữa, các mô
liên kết tạo máu bắt màu tím của hematoxyline cũng bị phá hủy (Hình 3.10).
Mô thận ở của cá chẽm có biểu hiện lở loét, đã có sự thay đổi một số tế
bào ống thận trên tiêu bản mô học, đã bị biến dạng không còn cấu trúc ống thận
bình thường, hình thành nhiều không bào (Hình 3.11). Ở một số tiêu bản mô học
khác đã có hiện tượng, sự tập trung bao vây của các tế bào máu, ở vị trí các mô
liên kết tạo máu tạo thành những khối bắt màu hồng của eosin (Hình 3.12).



Hình
3.12: Sự bao vây tế bào máu mô thận
Cá bị bệnh lở loét, tiêu bản mô học
cũng tìm thấy được sự phì đại hoặc tắc nghẽn của mạch máu (Hình 3.13). Ở thận của
những con cá chẽm mắc bệnh lở loét có sự gia tăng lên rất nhiều của các
melanomacrophage (Hình 3.14).


Lách
của cá chẽm nằm ở vị trí nội tạng, phần cuối của dạ dày, được che lại bởi ruột và mô mỡ. Khi phân tích 25 mẫu cá bệnh, ở
13 mẫu cá bệnh lở loét mô lách đã có sự biến đổi. Khi quan sát ở độ phóng đại 100X
và 400X trên các tiêu bản mô học, đã có sự bắt đầu tập trung lại thành từng đám
của các melanomacrophage, sự tăng nhanh lên của các melanomacrophage đã tạo
thành những khối màu đen (Hình 3.15). Ngoài ra cũng bắt gặp được các tiêu bản
mô học, khi mô lách bị nhiễm khuẩn lập tức có sự bao vây của các tế bào máu,
bắt màu hồng của eosin (Hình 3.16).

Mô cơ có cơ vân, cơ trơn và cơ tim, cơ là phần tiếp xúc đầu tiên với các
tác nhân gây bệnh, chống chịu mọi tác động cơ học, hóa học đến cơ thể cá. Trên
lát cắt mô học cá bình thường, thấy dạng sợi tơ cơ xếp thẳng, song song với
nhau. Ở tiêu bản mô học, lát cắt dọc theo bó cơ, thấy các sợi cơ xếp song song
chồng lên nhau (Hình 3.15 A) và ở lát cắt ngang bó cơ ta thấy các đầu sợi cơ có
hình đa giác và liên kết chặc chẽ với nhau (Hình 3.17 B).
Ở
những con cá có biểu hiện lở loét, trên tiêu bản mô học, mô cơ có hiện tượng
xuất huyết, giữa các sợi cơ xuất hiện rất nhiều đám tế bào máu bắt màu hồng
eosine và sự liên kết các sợi cơ không còn chặc chẽ. (Hình 3.18).
Hình 3.18: Mô
cơ xuất huyết
Mô cơ bắt đầu có sự hoại tử ở vùng
đã được khoanh tròn trên hình (Hình 3.19), ở cá chẽm bị lở loét, tiêu bản mô
học, cho thấy các sợi cơ bắt đầu vỡ cấu trúc, không còn giữ được sợi cơ nguyên
vẹn, có thể đây là sự nhiễm khuẩn ở cá bị lở loét.
![]() |
Não trung tâm điều khiển mọi hoạt
động sống của cơ thể, não cá nẵm phần đầu ngay phía sau hai hốc mắt. Ở cá bình
thường, có biểu hiện lở loét và cá bị bệnh lở loét thì hầu như tiêu bản mô học,
cho thấy mô não không có sự biến đổi gì rõ rệt, bất thường (Hình 3.20).

Tim chịu trách nhiệm vận chuyển máu
cho cơ thể, tim chủ yếu gồm các cơ tim liên kết lại với nhau tạo thành cấu trúc
bền vững của tim. Ở hầu hết cá chẽm bình thường, biểu hiện lở loét và cá bị
bệnh lở loét thì tiêu bản mô học, cho thấy mô tim không có biến đổi gì, vẫn giữ
được cấu trúc bình thường (Hình 3.21).
Hình 3.21: Mô tim cá chẽm bình thường
Bảng 3.3: Đặc điểm khuẩn lạc và hình dạng vi khuẩn
|
Đặc
điểm
|
V1
|
V3
|
V4
|
V6
|
V7
|
|
Khuẩn
lạc mọc trên môi trường TSA
|
Màu
trắng đục hơi trong, lồi trên mặt thạch
|
Màu
trắng đục, lồi trên mặt thạch
|
Màu
trắng sữa, lồi trên mặt thạch
|
Màu
trắng sữa hơi đục, lồi trên mặt thạch
|
Màu
trắng đục hơi vàng, lồi trên mặt thạch
|
|
Hình
dạng tế bào vi khuẩn
|
Trực
khuẩn ngắn, không di động
|
Trực
khuẩn ngắn hoặc phẩy khuẩn, di động
|
Trực
khuẩn ngắn, không di động
|
Trực
khuẩn ngắn, không di động
|
Trực
khuẩn ngắn, phẩy khuẩn, di động
|
|
Nhuộm
gram
|
Gram(–)
|
Gram(–)
|
Gram(–)
|
Gram(–)
|
Gram(–)
|
|
Mọc
trên môi trường TCBS
|
Màu
xanh, đường kính 1-3 mm sau 24h cấy
|
Màu
vàng, đường kính 2-3 mm sau 24h cấy
|
Màu
xanh, đường kính 1-3mm sau 24h cấy
|
Màu vàng,
đường kính > 3mm sau 24h cấy
|
Màu vàng, đường kính 2-3 mm sau 24h cấy
|
Một
số hình ảnh khuẩn lạc và hình dạng vi khuẩn.

Hình 3.22: Chủng vi khuẩn V1 và khuẩn
lạc nuôi cấy trên TSA
![]() |

|
STT
|
|
V1
|
V3
|
V4
|
V6
|
V7
|
|
1
|
Ortho
NitroPhenyl – βD – Galactopiranosidase (ONPG)
|
–
|
+
|
+
|
–
|
–
|
|
2
|
L – Arginine dihydrolase
(ADH)
|
–
|
–
|
–
|
–
|
–
|
|
3
|
L – Lysine dihydrolase (LDC)
|
–
|
+
|
+
|
+
|
+
|
|
4
|
L – Ornithine dihydrolase (ODC)
|
–
|
+
|
–
|
+
|
–
|
|
5
|
Sử dụng Citrate (CIT)
|
–
|
–
|
–
|
+
|
–
|
|
6
|
Sinh H2S
|
–
|
–
|
–
|
–
|
–
|
|
7
|
Sinh Ure
|
–
|
–
|
–
|
–
|
–
|
|
8
|
L – Tryptophane (TDA)
|
–
|
–
|
–
|
–
|
–
|
|
9
|
Sinh Indole (IND)
|
–
|
–
|
–
|
–
|
–
|
|
10
|
Sinh Acetone (VP)
|
–
|
–
|
–
|
–
|
–
|
|
11
|
Thủy phân Gelatine (GEL)
|
–
|
+
|
–
|
+
|
+
|
|
12
|
Lên men Glucose (GLU)
|
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
|
13
|
Lên men Manitol (MAN)
|
+
|
+
|
–
|
+
|
+
|
|
14
|
Lên men Inositol (INO)
|
–
|
–
|
–
|
–
|
–
|
|
15
|
Lên men Sorbitol (SOR)
|
–
|
–
|
–
|
–
|
–
|
|
16
|
Lên men Rhamnose (RHA)
|
–
|
–
|
–
|
–
|
–
|
|
17
|
Len men Sucrose (SAC)
|
+
|
–
|
–
|
+
|
–
|
|
18
|
Lên men Melibiose (MEL)
|
–
|
–
|
–
|
–
|
–
|
|
19
|
Lên men Amygdalin (AMY)
|
–
|
+
|
+
|
+
|
+
|
|
20
|
Lên men Arabinose (ARA)
|
–
|
–
|
–
|
–
|
–
|
|
21
|
Oxidase
|
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
|
21
|
OF/F
|
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
|
22
|
OF/O
|
+
|
+
|
+
|
+
|
+
|
Trong
đó: (–) âm tính; (+) dương tính.
Kết
hợp dựa vào đặc điểm sinh hóa kit API 20E (bảng 3.3) và phần mềm Apiweb kết quả
định danh các loài vi khuẩn thu được.

|
Strip
|
API 20 E V4.0
|
|
|
|
|
|
|
Profile
|
0 0 0 4 1 2 4
|
|
|
|
|
|
|
Note
|
|
|
|
|
|
|
|
Significant
taxa
|
%
ID
|
T
|
||||
|
Pasteurella
pneumotropica/haemolytica
|
90.6
|
0.74
|
MAN
|
12%
|
|
|
|
Next
taxon
|
%
ID
|
T
|
||||
|
Pasteurella
multocida 2
|
3.9
|
0.42
|
IND
|
99%
|
SOR
|
|
Chủng vi khuẩn V1 được xác định là loài Pasteurella pneumotropica/haemolytica với độ tin cậy ID 90.6%.
Đều âm tính với hầu hết các phản ứng trừ các phản ứng đường và ta thấy dương
tính với các phản ứng như: Glucose, Manitol, Sucrose (Bảng 3.3 và Hình 3.26).
Chủng vi khuẩn V3 được xác định là loài Vibrio vulnificus với độ tin
cậy ID 99.6%. Âm tính với hầu hết các phản ứng và ta thấy dương tính với một số
phản ứng như: ONPG, LDC, ODC, thủy phân Gelatine, lên men đường Glucose,
Manitol, Amygdalin (Bảng 3.3 và Hình 3.27).

|
Strip
|
API 20 E V4.0
|
|
|
|
|
|
|
Profile
|
5 1 0 6 1 0 5 5 7
|
|
|
|
|
|
|
Note
|
|
|
|
|
|
|
|
Significant
taxa
|
%
ID
|
T
|
|
|||
|
Vibrio
vulnificus
|
99.6
|
0.72
|
IND
|
99%
|
|
|
|
Next
taxon
|
%
ID
|
T
|
|
|||
|
Vibrio
mimicus
|
0.2
|
0.22
|
IND
|
99%
|
AMY
|
0%
|

|
Strip
|
API 20 E V4.0
|
|
|
|
|
|
|
|
Profile
|
5 0 0 4 0 0 5
|
|
|
|
|
|
|
|
Note
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Significant
taxa
|
%
ID
|
T
|
|||||
|
Burkholderia
cepacia
|
95.9
|
0.65
|
LDC
|
25%
|
CIT
|
78%
|
7%
|
|
Next
taxon
|
%
ID
|
T
|
|||||
|
Pasteurella
pneumotropica/haemolytica
|
2.3
|
0.35
|
LDC
|
1%
|
AMY
|
2%
|
|
Chủng vi khuẩn V4 được xác định là
loài Burkholderia cepacia có độ tin cậy 95.9%. Đều âm tính với hầu hết
các phản ứng đường trừ phản ứng Glucose là dương tính và ta thấy còn dương tính
với một số phản ứng khác như: ONPG, LDC, Amygdalin (Bảng 3.3 và Hình 3.28).
Chủng vi khuẩn V6 được xác định là loài Vibrio
alginolyticus có độ tin cậy
93.4%. Âm tính với hầu hết các phản ứng đường trừ các phản ứng: Glucose, Manitol,
Sucrose và ta thấy còn dương tính với một số phản ứng như: LDC, ODC, CIT, thủy
phân được Gelatine và Amygdalin. (Bảng 3.3 và Hình 3.29).

|
Strip
|
API 20 E V4.0
|
|
|
|
|
|
|
|
Profile
|
4 3 0 6 1 2 5 5 7
|
|
|
|
|
|
|
|
Note
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Significant
taxa
|
%
ID
|
T
|
|||||
|
Vibrio
alginolyticus
|
93.4
|
0.5
|
IND
|
100%
|
AMY
|
10%
|
|
|
Next
taxon
|
%
ID
|
T
|
|||||
|
Vibrio
cholerae
|
5.1
|
0.23
|
ONPG
|
98%
|
IND
|
99%
|
AMY
|
Hình 3.29: Mẫu chủng V6 chạy bằng
test kit API 20E và Apiweb
Chủng
vi khuẩn V6 được xác định là loài Vibrio
vulnificus có độ tin cậy 71.9%.
Đều âm tính với hầu hết các phản ứng đường trừ các phản ứng: Glucose và
Manitol và ta thấy còn dương tính với
một số phản ứng như: LDC, , Amygdalin và thủy phân được Gelatine (Bảng
3.3 và Hình 3.30).

|
Strip
|
API 20 E V4.0
|
|
|
|
|
|
|
Profile
|
4 0 0 6 1 0 5 5 7
|
|
|
|
|
|
|
Note
|
|
|
|
|
|
|
|
Significant
taxa
|
%
ID
|
T
|
||||
|
Vibrio
vulnificus
|
71.9
|
0.28
|
ONPG
|
99%
|
ODC
|
90%
|
|
Vibrio
parahaemolyticus
|
19.2
|
0.24
|
ODC
|
99%
|
IND
|
100%
|
|
Next
taxon
|
%
ID
|
T
|
||||
|
Aeromonas
hydrophila group 2
|
3.1
|
0.07
|
ONPG
|
99%
|
ADH
|
97%
|
|
VP
|
80%
|
SAC
|
80%
|
|||
|
Complementary
test(s)
|
CELac
|
GLUCOSEas
|
|
|
||
|
Vibrio
parahaemolyticus
|
0%
|
+
|
|
|
||
|
Vibrio
vulnificus
|
100%
|
-
|
|
|
||
Kết quả phân lập vi khuẩn từ 20 cá
chẽm nuôi thương phẩm bằng môi trường TCBS cho thấy không bắt gặp loài vi khuẩn
nào ở gan, thận và não của cá chẽm thuộc nhóm cá khỏe trong khi đó đã có 21
chủng vi khuẩn đã được phân lập từ nhóm cá bệnh. Thành phần và tỉ lệ vi khuẩn
phân lập được trên môi trường TCBS được thể hiện ở Bảng 3.5.
Bảng 3.5: Thành phần và tỉ lệ vi khuẩn phân lập từ cá
chẽm mắc bệnh lở loét dựa trên môi trường TCBS
|
STT
|
Nhóm dấu hiệu
|
Vi khuẩn phân lập được
|
|
|
1
|
Nhóm có dấu hiệu bệnh lý lở loét, mòn vây, cụt đuôi
|
Vibrio vulnificus
Vibrio
alginolyticus
Burkholderia cepacia
Pasteurella pneumotropica/haemolytica.
|
10/15
6/15
2/15
3/15
|
|
2
|
Nhóm cá khỏe không thể hiện dấu hiệu bệnh lý
|
|
0/5
|
Tổng số mẫu thu là 35 con cá (kích
thước 5 – 23cm) để kiểm tra sự biến đổi mô bệnh học, trong đó có 10 con là bình
thường không có dấu hiệu bệnh lý của bệnh, còn 25 con cá là có sự xuất hiện các
dấu hiệu bệnh lý rõ ràng của bệnh lở loét (7 con lở loét nhẹ, 6 con lở loét
xuất huyết gan, 12 con lở loét nặng hoại tử cơ thịt). Thể hiện ở các dấu hiệu
bệnh lý:
+ Cá bỏ ăn hoặc kém ăn, hoạt động chậm
chạp, da cá sẫm lại, có vết mòn màu xám hoặc các đốm đỏ phát triển ở đầu, thân,
các vây và đuôi. Các vết mòn đó dần lan rộng và sâu thành những vết loét, rụng
vẩy xuất huyết và viêm.
+ Các con cá bệnh nặng vết loét sâu tới
xương, làm phần cơ bị hoại tử nặng có thể để lộ phần nội quan của cá. Các vết
loét lớn vùng trung tâm vết loét có màu xám, các mép xung quanh có màu đen. Đôi
khi vết loét có màu trắng đục, trắng trong có nhiều nhớt, cơ vùng loét bị nhão
thối rữa. Các vây đuôi bị ăn mòn có những con cá đuôi bị mòn cụt hoàn toàn để
lộ ra ngoài phần xương đuôi.
Kết quả nghiên cứu mô bệnh học cho
thấy có sự biến đổi nghiêm trọng ở các tổ chức cơ quan gan, thận, cơ và lách
của những con cá chẽm mắc bệnh lở loét trong khi đó hầu như không có sự khác
biệt về tổ chức của tim và não của cá chẽm mắc bệnh lở loét so với cá chẽm khỏe
mạnh
Kết quả định danh vi khuẩn xác định
được 4 loài vi khuẩn Vibrio vulnificus Vibrio
alginolyticus, Burkholderia cepacia, Pasteurella pneumotropica/haemolytica cảm nhiễm ở cá chẽm
mắc bệnh lở loét trong đó Vibrio vulnificus
có tần xuất xuất hiện cao nhất
Cần làm thêm thử kháng sinh đồ và cảm nhiễm ngược trở lại và định danh
lại để xác định chính xác loài vi khuẩn trước đó, xác định được thuốc để phòng
trị bệnh.
Cần
có sự đầu tư sâu hơn nữa về kinh phí để khuyến khích các nhà nghiên cứu tập
trung nghiên cứu kỹ hơn nữa và toàn về bệnh ở động vật thủy sản đặc biệt cá
biển nói chung và cá chẽm (Lates
calcarifer Bloch, 1790), để có biện pháp phòng trị hiệu quả nhất cho nghề
nuôi cá chẽm hiện nay.
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
[1].
“Tài liệu một số phương pháp nghiên cứu bệnh ở động vật thủy sản” của trường
đại học Nha Trang (2001).
[2].
Lưu Văn Biên (2008), Đánh giá hiện trạng phát triển nghề nuôi thương phẩm cá
chẽm (Lates calcarifer,
Bloch 1790) ở Khánh Hòa, xác định ảnh hưởng của men tiêu hóa, vitamin bổ sung
đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá chẽm (2 – 3 cm đến 8 – 10 cm) ương trong
lồng bằng thức ăn công nghiệp. Luận văn tốt nghiệp đại học
[3].
Phạm Thị Duyên, 2007. Nghiên cứu bệnh hoại tử thần kinh (Viral nervous necrosis
– VNN) ở một số loài cá biển nuôi ở Khánh Hòa. Luận văn tốt nghiệp đại học
[4].
Trần Đức Diễn, 2008. Điều tra tình hình dịch bệnh trên cá chẽm (Lates
calcarifer, Bloch 1790) nuôi tại Cam Ranh – Khánh Hòa. Luận văn tốt
nghiệp đại học
[5]. Nguyễn Thị
Thu Hà, 2008. Nghiên cứu sự biến đổi trong các tổ chức cơ quan của tôm hùm bông
(Panulirus ornatus, Fabricius 1789)
bị bệnh sữa bằng phương pháp mô bệnh học. Luận văn tốt nghiệp đại học
[6]. Đồng
Thanh Hà, 2009. Nghiên cứu xác định tác nhân gây bệnh gan mủ thận
trên cá tra Pangasius hypophthalmus
tại Bến Tre. Luận văn tốt nghiệp đại học
[7]. Đỗ Thị Hòa, Trần Vỹ Hích, Nguyễn Thị Thùy Giang, Phan Văn Út, Nguyễn Thị Nguyệt Huệ. Các bệnh thường gặp trên cá
biển nuôi tại Khánh Hòa. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy
sản - số 02/2008. Trường đại học Nha Trang.
[8]. Đỗ
Thị Hòa, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Muội, Bùi Quang Tề, 2004. Bệnh học Thủy
sản, nhà xuất bản Nông Nghiệp.
[9]. Phạm Thị
Thanh Nga, 2003. Bước đầu nghiên cứu bệnh teo gan trên tôm sú nuôi thương phẩm
(Penaeus monodon) tại Khánh Hòa. Luận
văn tốt nghiệp
[10]. Hồ Thị
Oanh, 2004. Điều tra dịch tễ học và tiềm hiểu các biến đổi trong mô bệnh học
tôm sú (Penaeus monodon) nuôi thương
phẩm bị bệnh phân trắng teo gan tại Ninh Thuận.
[11]. Nguyễn
Nhật Thi, 1991. Cá biển Việt Nam, cá Xương vịnh Bắc Bộ. NXB Khoa học và Kỹ
Thuật.
[12]. Vương Thị
Thoa, 2009. Tìm hiểu bệnh mòn cụt thối đuôi do vi khuẩn gây ra ở cá chẽm (Lates calcarifer, Bloch 1790) nuôi lồng
ao tại Khánh Hoà. Luận văn tối nghiệp đại học
[13]. Nguyễn Thị
Thanh Thùy, 2005. “Tìm hiểu bệnh lở loét ở cá mú Seranidea nuôi tại Khánh Hòa.
Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Nha Trang
[14]. Đặng Thị
Minh Trang, 2005. Tìm hiểu hội chứng lở loét ở cá mú nuôi thương phẩm tại Khánh
Hòa. Luận văn tối nghiệp đại học
[15]. Sinh học
và kỹ thuật nuôi cá chẽm (Lates
calcarifer, Bloch 1790). Trường đại học Cần Thơ. Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Hà Nội – 1994.
[16]. Tài liệu
kỹ thuật FAO 402/2. Hướng dẫn chẩn đoán bệnh của động vật thuỷ sản Châu Á. Nhà
xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội, 2005.
[17]. Website:
google.com.vn.
[19]. Website: http://www.vietlinh.com
I. Dụng cụ
trang thiết bị cần dùng là
Hình:
Các thiết bị cần cho nghiên cứu, (A) – Dụng cụ giải phẩu, chai bi để cố định
mẫu và sổ ghi chép. (B) – Máy đúc các khối parafin chứa mẫu trong đó. (C) – Máy
cắt microtom. (D) – Buồng nhuộm mẫu.
![]() |
Hình:
(A) – Kính hiển vi đọc mẫu. (B) – Khay để lưu giữ mẫu.

Hình:
Máy sấy slide
II. Hóa chất:
+
Hematoxyline – Mayer:
*
Hematoxyline 1.0g
*
Nước cất 1000ml
*
Sodium Iodate NaI 0.2g
*
Amonium Alum 90g
*
Acid citric 1.0g
*
Chloral hydrat 50g
Hòa tan Hematoxyline trong nước cất
rồi thêm NaI và Amonium Alum, tiếp tục hòa tan cuối cùng thêm acid citric và
Chloral hydrat.
+
Eosin:
*
Eosin Y 1.0g
*
Cồn Etanol 70% 1000ml
*
Acid acetic 5ml
Hòa tan Eosin trong cồn Etanol 70% rồi
thêm cho đủ acid acetic.
+ Dung dịch cố định mẫu: dung dịch
Bouin lấy acid piric bão hòa pha với formol 30-40% theo tỷ lệ 3:1, sau đó cứ
100ml dung dịch trên thêm 5ml dung dịch acid acetic.
1. Dung dịch tím Crystal, hoặc tím Gelatin:
* Tím Crystal: 2g
* Cồn 95%: 29ml
Hòa tan các tinh thể tím trong cồn ta được dung dịch A
* Amonium Oxalate: 0.8g
* Nước cất: 80ml
Hòa tan Oxalate trong nước cất ta
được dung dịch B
Trộn lẫn 2 dung dịch A và B vào
nhau, giữ trong 24 giờ, dùng giấy lọc lọc có thể dung được ngay.
2. Dung dịch 2 Lugol:
* Iodine (I2):
0.5g
* Kali Iodine
(KI): 1g
* Nước cất: 150ml
Trước hết hòa tan KI trong 20ml nước
cất, sau đó cho thêm Iodine vào, để qua đêm, sau đó để lượng nước cất cần thiết
150ml.
3. Dung dịch Cồn – Acetone:
* Cồn 95%: 100ml
* Acetone: 5ml
Trộn đều 2 hóa chất trên ta được
dung dịch 3.
4. Dung dịch Safranin, hoặc Fuchsin
*
Fuchsin: 0.3g
* Cồn 96%: 10ml
* Acide Phenic; 5ml
* Nước cất: 95ml
Cho Fuchsin và cồn vào cối sứ nghiền
nát, rồi cho thêm Acid phenic sau đó cho đủ lượng nước cất cần thiết.
+ Hoặc dùng Safranin 0.25g
+ Cồn 10ml
+ Nước cất 100ml
Hòa tan Safranin trong cồn sau đó
thêm nước cất vào đủ 100ml.
III. Bảng thu thập số liệu:











sao hình ảnh k thấy đc vây? tiếc wa nếu thấy đc hình ảnh thì hay biết mấy
Trả lờiXóa